Câu nói của cô như một động lực vô hình kéo tôi về với những ngày tháng xa xăm. Thuở mà con đường này toàn đất đá lổm khổm, nhưng đã ghi dấu chân của bao người, để rồi có những giờ phút chia tay đã trở thành ngày ly biệt...

Hồi còn bé, tôi và đám bạn thích chơi trò trốn tìm dọc con đê 99. Mấy đứa loắt choắt thường chọn những cây nhãn to, tìm cái chạc cây lớn rồi trèo lên và nằm ngửa mình vào đó. Mùa hè dù có nắng nóng đến đâu, nhưng ở giữa chạc cây vẫn cảm thấy mát bởi lá và cành cây che phủ. Có đứa nằm mơ màng nghe tiếng ve kêu, rồi nhìn những quả nhãn to bằng hòn bi ve đung đưa nhè nhẹ trong gió đồng mà ngủ quên đi lúc nào không hay. Chỉ đến khi “kẻ địch” tìm thấy rồi đập vào người mới giật mình tỉnh dậy. Cũng chính vì cái mơ màng chốn quê ấy, mà mấy đứa đã bị ngã từ trên cao xuống đất, gãy xương, phải đi bó bột tận nhà ông lang Hanh trên Văn Giang. Vậy mà chẳng ai chừa. Con đê và những rặng nhãn luôn là nơi đong đầy những dấu ấn tuổi thơ.

Nhãn quê tôi ngon có tiếng. Vào tháng 6 âm lịch hằng năm, nhãn chín thơm nức cả con đê. Những quả nhãn căng mọng, to gần bằng ngón chân cái, hương thơm phảng phất như mời gọi mọi người thưởng thức. Nhãn tháng 6 được gọi là có 3 nước, tức là có 3 lớp cùi dày ôm chặt vào nhau. Khi bóc vỏ ra, cùi nhãn nhìn như hổ phách, nước ngọt lịm, mát và thơm đến ngất ngây, bỏ vào miệng “thì tận trong răng lưỡi đã nảy ra vị thơm tựa như nước thánh trời cho” như nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng ngất ngây.

leftcenterrightdel
Minh họa: MẠNH TIẾN

Bà nội tôi hồi còn sống kể rằng, có đến gần nửa số đôi vợ chồng trong làng yêu nhau rồi lấy nhau là do những lần hò hẹn trên đê và bên những cây nhãn lồng. Những đêm hè trăng thanh gió mát, đám thanh niên và trẻ con trong xóm thường ra bờ đê ngồi trên bãi cỏ, có người còn mắc võng ngủ giữa những cây nhãn ven đường. Bao câu hát đồng dao, những điệu hò đồng nội được các chàng trai, cô gái cất lên. Đám ve đang nằm im trên kẽ lá, chợt tỉnh giấc ọ ọe cất lên vài tiếng kêu ngái ngủ rồi lại thiếp đi, nhường cái không gian thanh bình ấy cho những lời hò hẹn.

Bố tôi tên là Đoan. Ông tuy không cao to, đẹp trai lắm, nhưng rất có duyên. Những người lớn tuổi ở làng tôi giờ vẫn kể rằng, ngày xưa ai cũng muốn nghe anh Đoan nói chuyện, nhất là đám con gái. Những câu chuyện của anh thường là chuyện tiếu lâm, hay chuyện châm biếm, tếu táo có thật ở trong làng xã. Cái giọng điệu dí dỏm cùng những biểu cảm độc đáo của hình thể,  của gương mặt, anh Đoan đã lôi cuốn mọi người từ câu chuyện này đến câu chuyện khác. Có lúc anh làm cho lớn bé, già trẻ bò lăn ra cười chảy cả nước mắt, nước mũi. Vì thế mà anh Đoan luôn được các cô gái trong làng để ý.

Nhiều cô gái quý mến, nhưng anh Đoan chỉ để ý đến con gái nhà ông Tần trên xóm Đạo. Không phải là người “sắc nước hương trời”, nhưng cô Thoa khá đằm thắm, nước da nhuộm màu nắng, dáng hình chắc nịch mỗi khi gánh lúa ở ngoài đồng về. Đặc biệt, nụ cười duyên của cô đã khiến bao chàng trai phải ngẩn ngơ, mơ màng. Ngày ấy ông Tần thích uống rượu nên nhiều anh chàng dùng chiêu bài mua rượu đến biếu để lấy lòng, thế nhưng cô Thoa chỉ hướng về anh Đoan con nhà nghèo cuối xóm Chùa.

Một ngày giữa năm 1965, cô Thoa đưa anh chàng Đoan về thưa chuyện với bố. Ông Tần cứ uống rượu ngật ngưỡng mà không nói gì cả. Mãi sau ông mới lắc cái đầu và bật ra câu: “Không biết con gái mình yêu thằng này vì cái gì nhỉ?”. Anh Đoan nhanh nhảu: “Dạ, Thoa yêu con vì con chân thành, tháo vát”. “Tôi không hỏi anh, mà tôi đang hỏi tôi đây này”-ông Tần đập mạnh tay xuống đất. Hai người sợ quá co rúm người lại. Họ hết nhìn nhau, rồi lại nhìn ông Tần như van xin. Thời gian trôi đi đặc sệt. Cuối cùng ông Tần thở dài: “Anh chị lấy nhau sướng khổ đừng trách tôi nhé”. Cô Thoa và anh Đoan rối rít vâng dạ khi ông Tần đã say rượu nằm ngủ ngáy dưới tấm chiếu rách trải giữa nhà. Và chỉ hơn một tháng sau, đám cưới của anh Đoan và cô Thoa được tổ chức. 

Một năm sau, cô Thoa sinh hạ một cậu con trai, chính là tôi. Cuộc sống ở làng quê nghèo trôi đi hối hả theo dòng thời gian của chiến tranh phá hoại. Quê tôi không bị giặc Mỹ giội bom, nhưng cũng tiếp nhận nhiều gia đình từ Hà Nội, Hải Phòng về sơ tán. Những nhà có con đi bộ đội hay thanh niên xung phong thường được đón người sơ tán đến ở. Nhà tôi chỉ rộng hơn 20m2 nên không có ai đến nhờ. Có tôi, bố vẫn thường vắng nhà để trực dưới trạm y tế xã, rồi lại trực cả trên trung đội pháo cao xạ bảo vệ cầu Lực Điền. Tôi lớn lên bằng dòng sữa của mẹ và lời ru của bà nội.

Không ai nghĩ bố sẽ đi bộ đội vì là con một, lại nhẹ cân. Nhưng chiến trường sục sôi, những bạn cùng trang lứa đã lần lượt rời quê vào Nam đánh giặc, khiến bố viết đơn bằng máu tình nguyện xin nhập ngũ. Ngày bố lên đường, bà nội và bà ngoại dắt nhau xuống bếp khóc. Còn mẹ thì lau những dòng nước mắt khi cấy lúa ngoài đồng. Những lần tiễn trai làng đi tòng quân đều rất bịn rịn, đẫm nước mắt. Con đê lổm khổm cùng rặng nhãn xanh tươi lại chứng kiến những lời thề non hẹn biển, rồi cố níu chân người đi, dằn lòng người ở lại...

Hai năm đầu bố tôi huấn luyện ngoài Bắc nên thi thoảng tranh thủ về thăm nhà được vài lần. Nhưng đến cuối năm 1970, đầu năm 1971 thì chỉ có những lá thư từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị gửi về. Mẹ tôi vừa chăm em gái mới được vài tháng tuổi, vừa ra đồng và vừa ngóng trông về phương Nam. Đến giữa năm 1971 thì nhà tôi chẳng còn được nhận một lá thư nào của bố nữa.

Năm tháng vội vã trôi đi. Vội đến nỗi tôi chẳng kịp đếm đã bao nhiêu mùa nhãn lồng trôi qua. Em gái lên bốn, lên năm tuổi, mẹ tôi vẫn tất bật bươn chải cấy cày để lo bữa ăn cho gia đình và tối mắt với những công việc của đội sản xuất. Đến năm 1973, 1974, xã tôi đón nhiều chú thương binh trở về, cũng có nhiều buổi lễ truy điệu các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu. Những giọt nước mắt, những tiếng khóc xé ruột gan cùng những vòng khăn trắng trên đầu những người thân liệt sĩ, làm đám trẻ con chúng tôi ngơ ngác. Người lớn thì đi đâu cũng nói về những mất mát do chiến tranh, ai còn, ai bặt tin... Những ngày này, bà nội tôi thường thắp hương lên bàn thờ tổ tiên khấn vái. Bà bảo làm như vậy là để cầu xin các cụ cho bố tôi được bình an trở về. Còn mẹ tôi, nếu không bận thì chiều nào cũng bế em gái tôi ra đầu làng, trông theo con đê hun hút hàng nhãn vắng bóng người.

Một chiều tháng 7-1975, khi mà cả nước vẫn còn hân hoan với niềm vui thống nhất non sông, thì mẹ tôi nhận được 3 cái giấy báo tử. Một là của bố tôi, một của anh ruột mẹ, cái còn lại là của người em họ gần. Mẹ lả người bên đống rơm trước sân, còn bà nội, bà ngoại thì thảm thiết khóc gọi con trai không ngớt. Nhìn những người thân yêu quằn quại trong đớn đau, tôi ngẩn ngơ như kẻ không có nhà. Không chỉ riêng gia đình tôi, mà trong tháng 7-1975, ở thôn còn hơn 20 gia đình khác nhận được giấy báo tử của con em đã chiến đấu, hy sinh trên chiến trường miền Nam. Cảnh tang tóc bao trùm vùng quê nghèo suốt mấy tháng liền. Kể từ dạo ấy, mỗi khi đến tháng 7 là cả thôn đều làm chung một cái giỗ lớn vào ngày 27-7. Cho đến nay, tháng bảy vẫn còn khắc sâu vào trong tâm khảm mọi người nỗi đau mất mát khôn nguôi.

Nghe tin mùa nhãn năm nay sai quả, mẹ tôi dặn: “Nếu con về quê vào mùa nhãn chín, nhớ đem mấy chùm đến thắp hương trên mộ ông bà nội ngoại. Con cũng nhớ mang vào Nam thắp hương cho bố. Ngày trước, bố trèo nhãn giỏi lắm. Bố biết chùm nào là quả ngon, cây nào là nhãn quý. Vì thế mà gia đình nội ngoại mỗi khi cần người bẻ nhãn, bố đều được gọi và là thành viên tích cực nhất”.

Tháng bảy năm nay, tôi trở về quê trên con đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng láng mượt. Trên cánh đồng Tam Thiên Mẫu giờ đã mọc lên nhiều nhà máy, xí nghiệp và đường sá. Người làng bàn tán là chỉ vài năm nữa thôi, chắc không còn một ruộng lúa nào trên cánh đồng này nữa. Dân quê tôi vui vì quê hương đổi mới, phát triển, nhưng cũng có người thở dài vì tình hình ô nhiễm ngày càng gia tăng.

Buổi chiều, tôi thả bước trên con đường đê 99 xưa. Không còn mặt đất đá lổm khổm, không còn cây nhãn lồng nào, nhưng hồn quê thời thơ ấu thì vẫn bổi hổi trong lòng. Con đê giờ đã được sửa thành con đường rộng và trải nhựa khá phẳng phiu. Ô tô, xe máy đi lại như thoi đưa, nhưng thi thoảng vẫn còn thấy một vài chiếc xe đạp lạch cạch đi về. Trong màu hoàng hôn tím biếc của tháng bảy, tôi như thấy những linh hồn liệt sĩ đang lần lượt về làng. Họ cười nói, chào hỏi nhau. Có người còn ngỡ ngàng hỏi về nhà của mình vì không nhớ đường do cảnh quan đã thay đổi quá nhiều... Con đê ngày chia ly, người ở lại hậu phương, người ra tiền tuyến giờ chỉ còn lại trong ký ức.

Tôi ngẩn ngơ trở về nhà khi nhiều gia đình đã bắt đầu bữa tối. Đến dốc rẽ vào ngõ, bỗng phía đằng sau có tiếng hỏi như gió: “Anh mới về đấy à?”. Là Mai, cô bạn ngày xưa kém tôi vài tuổi; bố của Mai cũng là liệt sĩ. Ngày tôi chuẩn bị đi học sĩ quan, Mai mới học lớp 7, ấy thế mà mẹ tôi và mẹ Mai đã gán ghép hai đứa với nhau. Hai bà còn hứa hẹn: “Phải giữ con cho nhau đấy nhé”. Nhưng tôi đi tuốt vào Nam, Mai sau này học ở Hà Nội rồi lập gia đình. Gặp lại nhau, chẳng ai còn nhắc lại chuyện xưa nữa.

“Em về chuẩn bị mấy thứ cho mẹ làm giỗ của thôn vào ngày 27. Anh có ở lại đến giỗ không?”-tiếng Mai vẫn nhẹ nhàng. Tôi không ở lại cùng em được, nhưng chiều nay tôi đang bước cùng em trên một đoạn đường quê. Vẫn nụ cười lúm đồng tiền duyên dáng, mắt bồ câu long lanh, em làm cho con đường quê dài như vô tận. Trong cái không gian tím màu thủy chung, bao kỷ niệm ngày trẻ thơ, bao ký ức về xóm làng năm xưa ùa về trong tôi, trong Mai bổi hổi. Tôi và em hòa vào không gian thân thương của quê nhãn, để cảm ơn và tri ân nơi mình đã sinh ra, lớn lên rồi trưởng thành, tri ân những người đã ngã xuống và hy sinh một phần xương máu cho độc lập, tự do và giải phóng đất nước, để tháng bảy này, lại chơi vơi, mãi chơi vơi trong tâm hồn của chúng ta.

Bút ký của LÊ PHI HÙNG