Thực tiễn đó đang diễn ra như thế nào? Giải pháp nào để những giá trị văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ tỏa sáng trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0? Kể từ số báo này, Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần tổ chức Diễn đàn “Người lính thời kỳ 4.0” nhằm kiến giải những vấn đề nêu trên. Rất mong sự cộng tác của bạn đọc và cộng tác viên. Bài viết xin gửi về: Phòng biên tập Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần, số 7 Phan Đình Phùng, Hoàn Kiếm, Hà Nội; email: baoqdndct@gmail.com.

Nhập ngũ vào tháng 6-1974 khi tròn 18 tuổi, đã có 43 năm phục vụ trong quân đội trước khi nghỉ hưu, tôi tự hào nghĩ rằng mình ít nhiều thấu hiểu người lính, cả trong chiến tranh và hòa bình. Nghề viết văn, làm báo cho tôi những cơ hội đi tới gần như đủ khắp các vùng miền Tổ quốc, từ biên cương đến hải đảo và được gần gũi với nhiều đồng đội thân yêu thuộc mọi quân, binh chủng. Thực lòng nói rằng, tôi yêu hơn Tổ quốc này một phần qua những người lính Cụ Hồ trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không ai có thể phủ nhận điều thiêng liêng này: Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ đã làm nên bao chiến công, kỳ tích lẫy lừng trong các cuộc chiến tranh giải phóng đất nước, bảo vệ Tổ quốc và góp phần dựng xây non sông. Đảng, nhân dân, những người lính tại ngũ hay đã nghỉ hưu, phục viên đều tự hào về điều đó.

Bộ đội giúp dân chống chọi với khô hạn ở Ninh Thuận. Ảnh: HOÀNG NGỌC THẠCH

Niềm tự hào chân chính khi nghĩ về các thế hệ chiến sĩ mang quân phục đã đồng hành với dân tộc dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, viết nên những bản anh hùng ca tuyệt vời nhưng cũng thấm đẫm biết bao mồ hôi và máu. Sự hy sinh của những người lính cách mạng vô cùng to lớn, không kể hết, không tính hết, tôi dám khẳng định điều đó. Trong chiến tranh, điều ấy ai cũng thấy rõ, không cần tranh luận bàn cãi. Chẳng phải vô cớ khi Nguyễn Đình Thi đã dựng nên hình tượng dân tộc Việt Nam Rũ bùn đứng dậy sáng lòa từ tư thế tấn công của người lính xung kích và Vũ Cao thì ngợi ca Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường, rồi Lê Anh Xuân đã khắc tạc bức phù điêu bất hủ Dáng đứng Việt Nam bay lên bát ngát những mùa xuân từ hình ảnh chiến sĩ Giải phóng quân ngoan cường đánh giặc trong Tết Mậu Thân 1968. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân vật trung tâm của văn học Việt Nam là Bộ đội Cụ Hồ. Hình tượng người lính xuyên suốt trong văn học kháng chiến lý giải vị trí, vai trò không gì thay thế được của họ trong hiện thực xã hội bi tráng mà dân tộc đã trải qua. Tự hào bao nhiêu thì đau xót bấy nhiêu, đâu chỉ trên chiến trường sinh tử mà ngay cả trong đời thường chênh vênh như Hữu Thỉnh từng thốt lên: Một đời người mà chiến chinh nhiều quá/ Em níu giường, níu chiếu đợi anh... Đấy là chiến tranh, còn thời bình thì sao? Có phải người lính được hưởng những đặc ân trong sự nhàn tản, nhẹ nhàng, dễ chịu như ai đó từng nghĩ, từng phát biểu?

Thiết nghĩ, nên nhắc lại đôi chút về quá khứ chưa xa xôi mấy. Sau giờ phút lịch sử huy hoàng ngày 30-4-1975, tưởng chừng cánh cửa hòa bình đã mở rộng ra lâu dài với dải đất cong cong hình chữ S này, những người lính trận từng “vào sinh ra tử” sẽ được thảnh thơi trên Tổ quốc từ đây sạch làu bóng ngoại xâm phương Tây. Những người mẹ đợi con. Những người vợ đợi chồng. Những đứa con đợi bố. Sẽ có những chiến binh được trở về nơi mình đã ra đi trong mùa hoa gạo thanh bình sau dằng dặc năm tháng chia ly. Không! Liên tiếp xảy ra mấy cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc. Cả dân tộc gồng mình đánh giặc mới và những người lính vẫn phải có mặt ở tuyến đầu. Tiếp tục thiếu thốn, tiếp tục gian lao, tiếp tục khốc liệt, tiếp tục hy sinh. Rồi, cũng những người lính tiếp tục làm lá chắn, làm ngọn cờ, làm cột mốc, làm bia chủ quyền trên mỗi dặm biên cương, mỗi vuông hải đảo. Tôi đã đến nhiều vùng biên giới, từ cực Bắc đến Tây Nam. Tôi cũng đã có mấy lần ra Trường Sa, đến nhiều miền biển, đảo. Nói sao hết những gian lao, vất vả của đồng đội, kể sao xuể những thiếu thốn, hy sinh của anh em. Biết đất nước còn nghèo nên người lính cũng không kêu ca, đòi hỏi. Tôi nghĩ, những gì Tổ quốc dành cho người lính hôm nay xứng đáng với sự cống hiến, hy sinh của họ.

Để xứng đáng là một đội quân chiến đấu, đội quân công tác, những người lính thời bình âm thầm chịu đựng muôn vàn gian khổ, nguy nan, thiếu thốn và cả những thiệt thòi nữa. Nơi nào khó khăn nhất, có người lính. Chỗ nào gian nguy nhất, người lính có mặt. Khi Tổ quốc cần, nhân dân cần, người lính tiên phong gánh vác nhiệm vụ dù có phải chịu thiệt thòi, hy sinh. Quân đội luôn luôn được đặt hàng đầu trong thế trận quốc phòng toàn dân để giữ vững chủ quyền đất nước, không bị bất ngờ trước mọi cuộc tấn công của kẻ thù. Mỗi giọt mồ hôi đổ xuống trên thao trường, giảng đường, nơi bám trụ, chặng hành quân đều vì mục đích đó. Sông núi, bầu trời, mặt biển của Tổ quốc, những tài sản vô giá ông cha để lại phải được giữ gìn, bảo vệ. Đó là điều thiêng liêng nhất trong trái tim người lính. Vì thế mà Đảng, Nhà nước ta xác định rõ ràng rằng hoạt động trong quân đội là thuộc dạng lao động đặc biệt. Khi nguy cơ của những xung đột thế giới, khu vực còn quá nhiều và chủ quyền đất nước đang đòi hỏi những kế sách, lực lượng, phương tiện để gìn giữ thì không thể xem những hoạt động quốc phòng là bình thường được. Nó phải được gắn vào tính đặc thù của Quân đội ta. Tất cả được đặt trong chiến lược giữ nước lâu dài.

Quân đội muốn vững mạnh, hiện đại, tinh nhuệ rất cần tính đến sự đầu tư vào con người. Đó phải là một địa chỉ thu hút nhiều tài năng đất nước; phải có những tướng lĩnh tài danh, những nhà khoa học quân sự giỏi giang, những người lính tinh nhuệ... Hơn thế nữa, phải có những con người sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì cho Tổ quốc trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh. Giá trị của những đồng lương, phụ cấp của người lính, theo tôi nghĩ nằm một phần ở đó. Ở chính cái người lính phải âm thầm gánh vác, chịu đựng để toàn tâm, toàn ý phục vụ đất nước. Ở nơi những đồng đội của tôi, không ít người cứ lặng thinh mà già. 8 tháng với người ở trên đất liền gần gũi người thân, gia đình có lẽ cũng không dài lắm, nhưng với một sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp ở Trường Sa, ở nhà giàn DK1 thì cũng đáng kể đấy. Một đợt công tác ở Trường Sa, nhà giàn thường dài như thế. 8 tháng xa gia đình, xa người thân vời vợi nhớ thương. Làm sao quen được sự chia xa cơ chứ! Tôi từng nghe nhiều cán bộ, chiến sĩ kể rất thành thật về nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con của mình. Ước mơ của họ cũng giản dị lắm, được ăn bữa cơm do vợ nấu, được dạy con học bài... vậy thôi nhưng không phải người lính nào cũng có điều kiện như thế.

Quá nhiều ví dụ để minh chứng cho sự thiệt thòi, hy sinh của người lính thời bình. Tôi đã từng rơi nước mắt khi đứng trước những nấm mộ san hô nằm lặng lẽ ở một góc đảo Trường Sa. Lại nao nao lòng khi đi qua những vùng sóng phảng phất linh hồn người lính đã ngã xuống khi chiến đấu với quân cướp biển và bão tố. Thân xác đồng đội tôi đã hòa vào mênh mang biển Việt, vô hình mà hữu hình như những cột mốc chủ quyền bất khả xâm phạm. Rưng rưng nghĩ tới những con tàu phải ra khơi khi bão đến, những chàng lính tuổi 30, thậm chí 40 vẫn chưa có mảnh tình vắt vai. Hỏi: “Vì sao các em lấy vợ muộn thế?”. Cười: “Không có điều kiện để “tiếp cận mục tiêu” anh ạ”. Chuyện đời thường. Không phải cô gái nào cũng chịu được cảnh chồng lính xa nhà biền biệt. Không phải không có những bi kịch gia đình sinh ra từ sự xa xôi này. Tôi lên biên giới, nghe chuyện người lính lo cho dân, làm cho dân cũng nhiều và sau đó là những thầm kín của đàn ông được sẻ chia. Vẫn là nỗi thương nhớ, lo toan cho cha mẹ già yếu, vợ con ở phía sau. Đại dịch Covid-19 lại là chuyện rất gần về những người lính nhường doanh trại, chăm lo bữa ăn, giấc ngủ cho đồng bào. Làm cho những người dân phải cách ly mà không hề bị cách biệt có phần đóng góp không nhỏ của Bộ đội Cụ Hồ. Trong cơn hoạn nạn, người dân càng hiểu hơn, thương hơn bộ đội. Họ thực sự là những chiến sĩ của dân, vì dân.

Tôi nghĩ, trong thời bình, giá trị Bộ đội Cụ Hồ vẫn tỏa sáng trong nhân dân. Chính nhân dân là người hiểu sâu sắc phẩm chất, bản lĩnh, tài trí của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đảng và Nhà nước đã, đang và sẽ tiếp tục ghi nhận những đóng góp to lớn của quân đội vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng Tổ quốc của nhân dân ta. Đó cũng là động lực để Quân đội ta vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Nhà thơ NGUYỄN HỮU QUÝ