Từ quản ca đến...văn công Trường Sơn

Tranh thủ ngày nghỉ, NSND Hoài Thanh dành thời gian phụ đạo thêm cho các học trò của mình chuẩn bị bước vào cuộc “sát hạch” cuối học kỳ. Chị nguyên là giảng viên thanh nhạc, Khoa Quản lý văn hóa (QLVH), Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật (VHNT) Quân đội. Nghỉ hưu năm 2010, nhưng vì yêu quý các học trò, đau đáu với nghệ thuật quần chúng, nên khi nhà trường mời làm giảng viên cộng tác, chị đồng ý ngay. Nhiều người bảo, trình độ chuyên môn và giọng hát của Hoài Thanh ở cái tuổi 65 giống như “gừng càng già càng cay”.

leftcenterrightdel
NSND Hoài Thanh.

“Chẳng bao giờ mình nghĩ sẽ vào bộ đội và trưởng thành được như bây giờ. Thoáng một cái đã mấy chục năm trời. Thời gian trôi đi nhanh quá”. NSND Hoài Thanh mở đầu câu chuyện khá cởi mở. Khi được hỏi về kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời quân ngũ của mình, chị nói: “Đó là những năm tháng “đầu quân” cho Đoàn Văn công Trường Sơn, được biểu diễn phục vụ bộ đội trên khắp các chiến hào”. Và cái duyên đưa cô gái quê gốc Nam Định Trần Hoài Thanh đến với con đường nghệ thuật như một thước phim quay chậm mà chị kể lại một cách rành mạch như mới diễn ra hôm nào.

Quê gốc ở xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, đầu năm 1960, gia đình Hoài Thanh chuyển đến TP Hải Phòng sinh sống. Vốn có năng khiếu múa hát từ nhỏ, suốt những năm học phổ thông, Thanh đều được “chỉ định” làm quản ca của lớp, được các thầy cô giáo khuyến khích tham gia các hoạt động văn hóa-văn nghệ, các hội thi giọng hát hay từ cấp trường đến thành phố. Đặc biệt, đầu năm 1975, Hoài Thanh đoạt giải nhất Giọng hát hay do thành phố cảng tổ chức khi đang làm công nhân Nhà máy Cơ khí Nam Thái (Hải Phòng).

Sau sự kiện này, trong hầu hết các hoạt động văn hóa-văn nghệ của Hải Phòng đều có sự góp mặt của Hoài Thanh khiến tên của chị “nổi như cồn”. “Ngày ấy điều kiện cơ sở vật chất khó khăn lắm. Chiến tranh mà. Các chương trình văn nghệ cùng lắm chỉ có cây đàn ghi ta; chiếc accordion, đôi loa sắt, thế là sang lắm rồi. Nhưng bọn mình tham gia các phong trào nhiệt tình, say mê với tất cả nội lực của tuổi trẻ”.

Cuối năm 1975, cô công nhân cơ khí Hoài Thanh được nghỉ phép. Một buổi sớm, vừa trồng rau vừa mải mê với giai điệu ca khúc “Thành phố Hoa phượng đỏ” của nhạc sĩ Lương Vĩnh, bỗng giật mình khi thấy một anh bộ đội đứng bên hàng rào lắng nghe cô hát từ bao giờ. Thấy cô gái bối rối, mặt ửng hồng vì e thẹn, anh bộ đội vội lên tiếng: “Tôi là Lê Nam, cán bộ Đoàn Văn công Trường Sơn. Vừa rồi còn đang loay hoay hỏi thăm thì chính giọng hát của Thanh đã dẫn tôi tới đây đấy”.

Mời vị khách lạ vào nhà, Hoài Thanh không khỏi tò mò, nhưng khi đối diện với anh bộ đội có ánh mắt trìu mến, giọng nói nhẹ nhàng, trầm ấm, Thanh cảm thấy gần gũi lạ thường. Như đoán được sự mong đợi của cô gái trẻ, anh Lê Nam cười, đi thẳng vào câu chuyện: “Thanh có muốn trở thành diễn viên Đoàn Văn công Trường Sơn không? Có muốn theo nghiệp nhà binh không?”... Thoáng chút bối rối, nhưng trong lòng cô chộn rộn niềm vui. Ngày còn đi học, giữa những năm tháng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc bước vào giai đoạn cam go, ác liệt nhất, qua sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam, cô thường xuyên được nghe những giọng ca đầy hào sảng, tươi vui của Đoàn Văn công Trường Sơn nổi tiếng như: Quang Thọ, Doãn Tần, Thu Hiền, Hoàng Chè... và thầm ước một ngày nào đó tiếng hát của mình cũng sẽ vang lên trên sóng đài phát thanh.

“Em thích lắm, nhưng sợ mình không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Em đã có kiến thức gì về âm nhạc đâu”. Hoài Thanh trả lời. “Vậy là em đồng ý rồi nhé. Cứ yên tâm. Với khả năng của em, nhất định đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ”. Anh cán bộ tỏ rõ niềm hân hoan. Thì ra, nghệ sĩ Lê Nam (sau là Phó cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa-Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) khi đó được Đoàn Văn công Trường Sơn giao đi tuyển chọn nguồn diễn viên nhằm bổ sung lực lượng đi phục vụ các đơn vị bộ đội và nhân dân sau ngày giải phóng miền Nam. Và cái tên Hoài Thanh được anh chú ý đầu tiên trong danh sách các hạt nhân văn nghệ quần chúng xuất sắc của thành phố cảng do Ty Văn hóa (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cung cấp.

Sau buổi gặp gỡ ấy một thời gian ngắn, Hoài Thanh có giấy báo nhập ngũ. Mọi thủ tục diễn ra rất nhanh. Khoác trên mình bộ quân phục mà trong lòng Hoài Thanh trào dâng biết bao cảm xúc, vui buồn xen lẫn. Suốt quãng đường cả nghìn cây số hành quân vào Quảng Trị, Hoài Thanh đã khóc vì nhớ bố mẹ, nhớ anh chị em. Thế rồi cô ca sĩ trẻ nhất Đoàn Văn công Trường Sơn năm ấy cũng quen dần với nhiệm vụ người chiến sĩ, nghệ sĩ, nhất là khi được lớp anh chị nghệ sĩ, diễn viên đi trước truyền dạy những kiến thức cơ bản về âm nhạc, về kỹ năng biểu diễn, được cùng đoàn đi phục vụ bộ đội, phục vụ nhân dân khắp nơi trong cả nước, Hoài Thanh bắt đầu khẳng định được tên tuổi của mình, trưởng thành nhanh chóng và trở thành một trong những giọng ca chính không thể thiếu của đoàn. Những ca khúc gắn bó với tên tuổi của chị phải kể đến như: “Người chiến sĩ ấy”; “Bài ca người giáo viên nhân dân”; “Nhạc rừng”, “Đất nước lời ru” và sau này là “Gần lắm Trường Sa”...

Nhấp ngụm nước, chị kể tiếp: Sau giải phóng, đời sống vật chất cũng như tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Vì vậy, cán bộ, diễn viên Đoàn Văn công Trường Sơn ai cũng mong đến được nhiều đơn vị, nhiều địa phương, đem lời ca tiếng hát của mình phục vụ, động viên, chia sẻ với bộ đội, với nhân dân. Những sân khấu-chiến trường mãi khắc sâu trong tâm trí các diễn viên văn công Trường Sơn năm ấy phải kể đến là: Gio Linh, Thành cổ (Quảng Trị); Ba Chúc (An Giang); Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (Tây Ninh); Thanh Thủy, Vị Xuyên (Hà Giang); Phong Thổ (Lai Châu); rồi tham gia giao lưu, biểu diễn phục vụ bộ đội, nhân dân hai nước bạn Lào, Campuchia. Đặc biệt, ở những khu vực còn xảy ra chiến sự ác liệt, diễn viên của đoàn không quản khó khăn, gian khổ, không sợ hy sinh, sẵn sàng lên tận các trận địa, các chiến hào đàn “mộc”, hát “chay” động viên, cổ vũ bộ đội. Các vị trí xung yếu, không thể cơ động lên được, các nghệ sĩ hát qua đường dây thông tin cho bộ đội nghe. Những khi ấy, tiếng hát của các diễn viên có lúc lạc đi, có lúc ngắt quãng vì xúc động. Hát xong rồi thì ôm nhau khóc vì thương bộ đội...

“Người lái đò” hết lòng vì học trò

Tháng 9-1979, theo yêu cầu nhiệm vụ, Đoàn Văn công Trường Sơn ngược núi rừng Tây Bắc, chuyển giao về Quân khu 2, đổi tên thành Đoàn Nghệ thuật Quân khu 2 (nay là Đoàn Văn công Quân khu 2). Sau 22 năm phục vụ ở Đoàn Văn công Trường Sơn, rồi Đoàn Văn công Quân khu 2, cuối năm 1997, NSƯT Hoài Thanh chuyển về giảng dạy tại Trường Cao đẳng VHNT Quân đội (nay là Trường Đại học VHNT Quân đội). Chính quãng thời gian phục vụ bộ đội, phục vụ nhân dân khắp các đơn vị, địa phương với vô vàn gian nan, vất vả đã hun đúc trong con người Hoài Thanh một tâm hồn nghệ sĩ, một giảng viên thanh nhạc dày dạn kinh nghiệm, giàu vốn sống, đức hy sinh...

Hơn 10 năm công tác tại trường, chị được giao Chủ nhiệm Bộ môn Thanh nhạc, giảng dạy 8 khóa cao đẳng QLVH, 4 khóa đại học. Niềm tự hào lớn nhất của chị là có học trò công tác ở khắp các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, là hạt nhân nòng cốt, cán bộ phong trào trong các kỳ hội diễn nghệ thuật quần chúng, góp phần không nhỏ nâng cao đời sống tinh thần cho bộ đội ở cơ sở.

leftcenterrightdel
Đại tá Hoài Thanh đón nhận danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, năm 2016.

Chị tâm sự, giáo trình giảng dạy đối tượng học viên QLVH khác với đối tượng học viên nghệ thuật chuyên nghiệp. Đối tượng đào tạo diễn viên thanh nhạc phần lớn đều có năng khiếu bẩm sinh, chất giọng trời phú, có nhiều em đoạt giải cao trong các hội thi, hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, còn học viên QLVH là những cán bộ, chiến sĩ trưởng thành từ phong trào nghệ thuật quần chúng ở đơn vị. Chính vì vậy, quá trình giảng dạy, giáo viên phải thực sự tâm huyết, trách nhiệm, tận tình, kiên trì hướng dẫn, không nóng vội. Đấy là chưa kể, các đối tượng học viên đến từ nhiều miền quê khác nhau, phong tục tập quán, giọng nói, cách phát âm hết sức phong phú, đa dạng, kéo theo phương pháp hướng dẫn của giáo viên cũng phải linh hoạt, sáng tạo, làm sao để trình độ nhận thức của các học viên phải tương đối đồng đều. Các học viên yếu kém được kèm riêng, thường xuyên khích lệ các em vượt qua mặc cảm, phấn đấu vươn lên... Sự tận tụy, chu đáo, hết lòng vì học trò của Hoài Thanh được đền đáp xứng đáng khi nhiều học trò của chị trở thành cán bộ cốt cán trong hoạt động nghệ thuật quần chúng từ cấp cơ sở đến toàn quân, có người trở thành nhạc sĩ, cán bộ văn hóa có tên tuổi ở địa phương.

Miệt mài cống hiến hết mình cho nghệ thuật, nghỉ hưu với quân hàm đại tá, danh hiệu NSND, nhưng Hoài Thanh luôn yêu nghề như thuở ban đầu. Ngày ngày, với chiếc xe đạp điện, chị kiên nhẫn vượt qua quãng đường đông đúc giữa lòng Hà Nội để đến trường tiếp sức cho các học trò. Chị bảo, chỉ khi nào không còn sức khỏe nữa tôi mới dừng việc dạy học. Vì mình yêu công việc giảng dạy, yêu học trò lắm!

Bài và ảnh: NGUYỄN HỒNG SÁNG