Năm ấy, còn chẵn tháng mới Tết mà rét thấu xương, con chó Mã nhà tôi đột nhiên lăn ra ốm chết, để lại đàn con lít nhít vừa mở mắt. Nó được đặt theo tên một con chó thời bố tôi đi bộ đội, đóng quân bên Campuchia. Ông xuất ngũ, con Mã theo tàu lội từ bờ biển cho đến khi chới với ngoài khơi. Con Mã sau (chị em tôi vẫn thường gọi thế dù ông một mực nói rằng vẫn là chính nó thôi!) ông chôn ngay dưới một gốc đào, đắp thành nấm mộ. Bố tôi buồn đến rụng rời nhưng vẫn cố nhấc người dậy cùng mẹ đẩy xe thồ muối đổ cho bè gỗ lên mạn ngược để lấy sắn “gạc hươu” về gác bếp chống đói độ giêng hai. Bóng hai người vừa khuất phía bến đò thì ông Tần hàng xóm đi tắt qua bờ giậu cúc tần, lăm lăm lưỡi xẻng cùn nhằm thẳng gốc đào mà

xới tung nấm đất. Bố mẹ trở về, chị em tôi đã khóc đến khản giọng. Bố tôi chẳng nói chẳng rằng, bước chân xé rào sang phía bên hàng xóm, lúc sau trở về với hai tròng mắt đỏ hoe. Đêm ấy, bên cánh võng, giọng ông nghèn nghẹn kể mẹ nghe về những bờ môi bóng nhẫy mỡ của bốn đứa trẻ xấp xỉ tuổi con mình bụng no nê món thịt chó “hạ thổ” nhưng vẻ mặt thắt lại vì sợ hãi, tay bấu chặt lưng người cha góa vợ trong buổi chiều đông bóng tối ngập đầy dần. Năm ấy, cả vườn đào nhà tôi, riêng một gốc không hề bật nụ. Những cành cây già nua, khẳng khiu mốc thếch địa y như trông chờ hóa thạch.

- Tại nhà mày cả đấy, làm bố tao buồn, làm nhà tao mất Tết!

Tôi trách móc thằng Linh, con trai ông Tần. Giận, nhưng mỗi ngày tôi và nó vẫn lừng khừng đầu ngõ đợi nhau đi học và mỗi khi vãn việc vặt ở nhà lại ngồi chung trên chiếc ghế gỗ đặt bên cửa căn bếp rạ khói um, đợi bố mẹ tôi đi làm đồng về dúi cho củ khoai lang hay con muồm muỗm béo ngậy. Chúng tôi vừa lúi húi nướng, vừa nghe gà cục tác, khế rụng sau vườn.

leftcenterrightdel
Minh họa: Phùng Minh

- Cho mày, nhớ đừng giận tao nữa…

Linh đặt vào lòng bàn tay tôi con muồm muỗm nướng còn ấm nóng rồi vụt chạy về nhà trong ráng chiều chạng vạng.

*

*      *

Cô Pha mấy ngày Tết thôi đưa đò. Cô sống một mình nên chỉ chiều Mồng Một đã qua nhà tôi, vừa mở lời chuyện trò vừa kéo chiếc khăn len quá miệng kêu rét rét. Thì năm nào trời đất cũng rét thế thôi. Cứ nhìn má trẻ con đứa nào đứa nấy căng nứt, tấy đỏ, bóng loáng mỡ gà là biết. Giữ ý mãi, đã cố tránh “năm mới nói chuyện cũ”, rốt cuộc cô cũng buột miệng kêu “tiếc quá”. Tiếc cả con chó Mã, tiếc cả cây đào năm nay “ngậm” hoa buồn như gái góa. Xa xa, bến đò xuân lay phay mưa với một mái chèo van vát đủ khiến niềm tiếc nhớ của cô chảy trôi theo dáng hình người đồng đội của bố tôi đã thề non hẹn biển với cô mà mãi mãi không về. Mẹ tôi thường kể, hai chiếc khăn tay ngày xưa, cô Pha thêu đóa hồng gai còn mẹ thêu hoa đào thắm. Cô thêu tình yêu và mẹ thêu mùa xuân. Thời của những giấc mơ bất tận. Mẹ mơ người con trai trở về với mùa xuân trên tay. Cô Pha linh cảm người mình thương sẽ nắm chặt tình yêu và bay đi mãi… Bố tôi ngậm ngùi khẳng định, đúng là chú ấy từng nắm chặt chiếc khăn.

Ở xóm đào phai này, mùa đông như dài hơn, triền miên từ năm này qua năm nọ. Một mùa đông sau này, khi tôi chạm đến thời thiếu nữ, trong hơi gió bấc, cô Pha ngồi mé giường mẹ tôi mở lời vân vi chuyện nhà “bên ấy”, về ông Tần góa vợ, về những mùa đông lạnh anh em thằng Linh vừa đói khát vừa thèm thuồng được mặc manh áo ấm, nhìn không chớp từng mũi đan xanh đỏ của cô.

- Cô cứ suy nghĩ cho kỹ, tình cảm con người là một chuyện, nhưng rồi thì còn đám trẻ con, cô có thay mẹ chúng được không, có đủ yêu thương, gánh vác nổi hay không?

Giọng mẹ tôi thủ thỉ, tan loãng vào đêm. Bố tôi thì im lặng, đôi vai gầy guộc thỉnh thoảng rung lên theo từng đợt ho. Cô Pha chẳng nói gì nhưng ai cũng hiểu thế nghĩa là cô quyết về “bên ấy” rồi.

*

*      *

Tháng Bảy mùa ngâu, mây trời mưng mưng nước, tưởng như chỉ cần đến vài cây sào nối nhau chạm vào hẳn sẽ vỡ òa. Mẹ vừa ngồi khâu áo, vừa đố chị em tôi: “Mưa xuống vườn, cây nào được mát đầu tiên?”, chúng tôi tranh nhau đáp: “Đó là cây cau!”. Rồi nắm đuôi áo nhau chơi rồng rắn lên mây chờ mưa xuống sẽ núp dưới gốc cau đợi nước đọng trên buồng lá nặng trĩu, trút ào như ai cầm cả xô nước giội xuống đầu mình. Đang vui, bỗng thấy thằng Linh thập thò ngoài cửa sổ, vẻ mặt bần thần, mắt rơm rớm nước. Từ dạo nhà có thêm người, ông Tần đi chống bè gỗ thuê, ngược ngàn biền biệt. Thằng Linh sắp có thêm em. Cô Pha gần tới ngày sinh nở vẫn ì ạch quẩy quang gánh lên dãy núi phía xa kiếm củi chất đầy gian bếp lụp xụp.

Mưa lũ, đầu nguồn trôi về những tảng bọt đục ngầu cuộn xiết, lặn hút vào từng chiếc xoáy to như nắp vung. Bố mẹ tôi chạy qua chạy lại nhà cô Pha suốt, ai cũng cố nén tiếng thở dài đang dồn lên nghèn nghẹn cổ họng. Khi nước mắt cô và anh em thằng Linh gần như đã cạn, ông Tần mới trở về. Khắp người ông, những vết phồng rộp do bị sốt rét, bị muỗi và vắt rừng đốt, cả vết thương lúc bị cây chèn khi chuyển gỗ lên bè đã kéo da non. Một gia đình người Mường tốt bụng đã cưu mang, chăm sóc thuốc thang cho ông. Ông choàng đôi tay gầy guộc ôm lấy mẹ con cô Pha giữa nếp nhà liêu xiêu, dột nát.

*

*      *

- Linh sẽ vào bộ đội, sẽ thành người lính…

Lần đầu tiên Linh xưng tên, không “mày-tao” với tôi nữa. Tôi đã có kết quả đỗ đại học, Linh cũng thế, nhưng tạm gác lại, tình nguyện lên đường nhập ngũ. Trước ngày tiễn Linh đi, chúng tôi ngồi bên bến đò cô Pha thường chở khách. Người trong vùng vẫn bảo, con gái quê tôi đẹp là nhờ bến sông này, nhờ vào thứ mạch nguồn thẳm sâu và bí ẩn uốn quanh chân núi. Bến nước có từ lâu lắm, bậc lên xuống được lát bằng những phiến đá xanh to bằng nửa chiếc giường, gần với mặt nước là những tảng đá ong vàng ruộm lỗ chỗ mòn vẹt, cứ tưởng theo tháng năm sẽ bị sóng ăn mòn nhưng hóa ra còn mãi. Tôi lo lắng, tiếc nuối cho Linh nhưng không khóc nổi. Quá nhiều cảm xúc cứ dâng ngập, hòa quyện và đặc quánh trong lòng. Bố Linh đã qua đời vì bạo bệnh, bốn đứa em lít nhít đang tuổi ăn học, chẳng cần phải phân bua giãi bày, chúng tôi luôn hiểu về nhau như những đứa trẻ chung gia đình. Tôi chưa bao giờ hết ám ảnh về một buổi chiều, mẹ con Linh tựa vào nhau liêu xiêu trên đường đê gió lộng. Quê tôi có tục lệ hễ ai qua đời sẽ được an táng ở ngọn núi phía bên kia sông. Dòng sông nhỏ chia làng thành hai thế giới âm-dương. Ông Tần vĩnh viễn về phía bên kia, bao nỗi gian truân, nhọc nhằn trút sang vai cô Pha và đứa con trai đầu vừa kịp lớn.

*

*      *

“Xóm nghèo của chúng ta giờ thành địa chỉ truyền miệng của đại gia chuyên “săn” hoa đào núi. Bao năm bố mình cặm cụi vun trồng, giờ cứ tiễn dần từng gốc đào lên những thùng xe tải...”.

“Linh ở ngoài đó thế nào? Nói cho mình biết để làm được một cây hoa ốc như Linh gửi về tặng mình thì phải qua bao nhiêu công đoạn? Viết thư kể cho mình nhé, đừng lười, dù bây giờ ai cũng có điện thoại và lúc nào cũng có thể nhắn tin…”.

Vào đại học, tôi vẫn giữ thói quen viết thư cho Linh mỗi tuần. Linh đóng quân ở đảo Song Tử Tây, thỉnh thoảng, thư gửi về còn kèm vài bức ảnh chụp cậu và đồng đội rạng ngời, lãng mạn trong bộ quân phục của người lính hải quân. Qua thư, Linh kể cho tôi rất nhiều chuyện thú vị.

“Gốc đào ở đảo kỳ lạ lắm nhé, không như quê mình đâu. Đảo nhiều cây phong ba như Song Tử Tây, bộ đội sẽ dùng một khóm phong ba, gắn lên những bông hoa đào năm cánh được cắt dán thủ công, bày biện vào đêm Giao thừa như một nghi thức thiêng liêng. Các đảo khác thì cây bàng vuông, cây gai bụi… những con tàu trực xuyên Tết lênh đênh trên biển khi ghé đảo sẽ được tặng cành cây khô để gắn hoa đào”.

“Mùa biển lặng, cầu cảng vẫn sóng vỗ ầm ì, các đại biểu nữ ra thăm đảo ăn mặc rất đẹp, chấp chới vẫy tay chào bộ đội từ trên xuồng. Giây phút ấy, mình thường nhớ tới những người phụ nữ quê ta. Khi khách thăm đảo còn chông chênh vì sóng gió, chỉ huy đề nghị mình hãy làm gì đó khuấy động, chia sẻ với mọi người. Mình đọc vần thơ viết vội: Hãy giữ cho nhau nhịp tim không run sợ/ Chân vững vàng và mắt cứ long lanh/ Có chúng tôi đây đo đếm từng nhịp sóng/ Hãy làm hoa mà nở giữa muôn trùng…

*

*      *

Rốt cuộc, xóm núi của chúng tôi chỉ còn hai gốc đào cổ thụ nhìn nhau qua mùa gió. Xóm đào phai suýt thành quên lãng nếu không có dự án đường tỉnh vắt qua. Hai gốc đào suýt rơi vào “quy hoạch” nếu trên bản đồ địa chính nét mực mảnh mai như sợi tóc mơ hồ, chệch choạc một li. Đúng lúc tôi thở phào sau cuộc gọi tối Ba mươi của bố ở quê thì trên sóng truyền hình, ống kính đang cận cảnh anh bộ đội ôm chầm lấy người mẹ tóc pha sương có bờ vai gầy mòn, thân thuộc.

“Quê tôi ở xóm đào phai-nơi mỗi nấm đất, mỗi gốc đào đều thấm đẫm niềm bao dung, thương xót. Hàng xóm của tôi đã bán từng gốc đào máu thịt giúp mẹ Pha nuôi anh em tôi ăn học khi bố qua đời. Mẹ tôi vẫn đưa đò dẫu bờ sông chỉ còn lại mái chèo mòn tủi. Năm nay, tôi đón mùa xuân bằng cánh đào giấy Trường Sa với nỗi nhớ chập chờn mảnh chăn ấm màu đào phai vắt qua đồi ngàn lau trắng xóa…”. Qua màn ảnh, tôi nhận ra Linh, nhận ra cả dáng dấp cô Pha mờ nhòe, run run ôm lấy con chồng trong Chương trình “Chúng tôi là chiến sĩ”.

Truyện ngắn của LỮ MAI