Từ đấy, tất cả những gì tôi có, tình cảm yêu mến, nỗi nhớ, sự biết ơn, niềm tự hào… đều dành cho miền núi. Viết về miền núi là một nhu cầu đối với bản thân; thứ hai, với mỗi nhà văn, điều may mắn nhất chính là có một đề tài “ruột”. Nó giống như là một sở trường. Với tôi, gắn bó với đề tài miền núi như là việc được cày xới gieo trồng trên một mảnh đất mà trước đấy, hiện tại có rất ít người canh tác. Vẫn còn những luống đất chưa ai đặt chân tới. Đấy thực sự là một may mắn. Tất nhiên, đôi khi tôi vẫn viết những thứ khác. Nhưng dù là viết gì thì nó cũng không thể nào thân thương như khi viết về miền núi. Cảm giác như được về nhà, ngồi bên bếp lửa của mẹ, uống một ngụm trà pha từ ấm nước suối vừa được đun sôi lục bục, còn nguyên mùi khói. Tôi chưa nói hay hay dở, nhưng chắc chắn một điều rằng, viết về cái gì mình yêu mến nhất, cũng như hiểu biết nhất, luôn có kết quả tốt hơn là viết về những gì chỉ sơ sài, lơ mơ.

leftcenterrightdel
Minh họa: LÊ ANH

Viết, hay nói chung là sáng tác về miền núi, dân tộc thiểu số thực sự là một thách thức. Khi tôi viết kịch bản phim, viết xong, việc còn lại là của đạo diễn và cả một ê kíp hàng trăm người khác. Tôi hầu như không can thiệp nữa. Quan điểm của tôi là ai có việc của người ấy, tôn trọng nhau. Nhưng thâm tâm tôi biết, để thực hiện được bộ phim ấy chắc chắn là một thử thách đối với người làm phim. Tôi viết về vùng văn hóa Mông, bối cảnh miền núi, với dày đặc các chi tiết về phong tục tập quán dân tộc Mông, suốt từ đầu đến cuối của hơn 30 tập phim. Tôi cũng tìm cho đoàn làm phim một cố vấn phong tục, là một người Mông thực sự, rất am hiểu về phong tục tập quán. Anh ấy đã theo đoàn làm phim suốt một thời gian dài, cố vấn từ phục trang, đạo cụ, bối cảnh, tới lễ nghi ma chay, cưới xin, lễ hội… Thậm chí anh còn tham gia một vai diễn nhỏ. Nhưng chắc chắn, đạo diễn vẫn phải bối rối vô số lần. Không gì khó bằng thực hiện một việc mà mình không nắm được bản chất của nó. Bộ phim ra đời, nhiều người hỏi tôi cảm thấy thế nào? Có ưng ý không? Tôi bảo, tôi không trả lời được. Tôi thấy hạnh phúc nhất là những chàng trai, cô gái từ trang sách của tôi, từ kịch bản của tôi bước ra, và nói với nhau những lời mà tôi đã thức trắng nhiều đêm liền để nghĩ ngợi. Còn những điều khác, tôi không muốn nhắc đến.

Trước đây, từng có lần tôi và vài người bạn cùng mê mẩn miền núi nói với nhau rằng, cách tốt nhất để một bộ phim về dân tộc Mông là dùng thoại bằng tiếng Mông, và có phụ đề tiếng Việt. Tất nhiên, trong câu nói đó hàm chứa sự khôi hài, nhưng nó cũng thể hiện khát vọng, mơ ước của người sáng tác, là làm sao một bộ phim về dân tộc thiểu số có thể tránh được những “lỗi kỹ thuật” trong đó có cái mà người ta hay nhắc đến nhất, đó là sự “giả cầy”.

Thì bản chất của điện ảnh chẳng phải là sáng tạo trên nền của đời sống sao. Chỉ có điều, với những tác phẩm về dân tộc thiểu số thì có nhiều trở ngại hơn. Tôi lấy ví dụ, người Mông không nói tiếng Kinh, và diễn viên thì không thể nói tiếng Mông. Mà tiếng Mông không phải chỉ đơn thuần là biểu đạt nội dung gì, nó còn bao gồm cả ngữ điệu, thậm chí là tư duy. Mỗi dân tộc có một đặc trưng tư duy, cũng như là đặc trưng giao tiếp. Cái đặc trưng ấy khi được “dịch” ra tiếng phổ thông sẽ rất dễ rơi vào một trong hai tình huống: Ngô nghê, hoặc “giả cầy”. Cả hai thứ ấy đều không phải Mông, cũng chẳng phải Kinh. Cộng thêm diễn xuất, giọng điệu của diễn viên nữa (mà diễn viên thì đương nhiên, chủ yếu, hầu hết là người Kinh). Một cô gái sinh ra và lớn lên ở một đô thị lớn, làm sao hiểu được một cô gái Mông cùng lứa với mình ở miền núi sống thế nào, yêu thế nào. Mà không hiểu, thì chỉ có thể “diễn” thôi. Diễn mà như thật khó hơn diễn mà như… diễn rất rất nhiều. Tôi mạo muội nói như vậy. Cái việc diễn xuất của diễn viên người Kinh vào vai nhân vật người Mông ít nhiều cũng có điểm tương đồng với một nhà văn người Kinh viết về vùng văn hóa Mông vậy.

Cũng có quan điểm cho rằng, một tác phẩm nghệ thuật không phải là sự sao chép thực tế đời sống. Nếu sao chép thì làm phim tài liệu, hoặc viết bút ký cho xong, cần gì đến tiểu thuyết, truyện ngắn hay phim điện ảnh. Cũng không phải không có lý. Tuy nhiên, sáng tạo gì đi nữa thì cũng phải nằm trên những nền tảng cốt yếu, trên cái phông nền của đề tài, mà ở đây là nền tảng văn hóa truyền thống của người bản địa, dân tộc thiểu số. Ngoài cảm hứng nghệ sĩ nó đòi hỏi phải có kiến thức, sự hiểu biết về vùng văn hóa ấy. Ví như, không thể xây dựng bối cảnh người Mông mà sinh hoạt trong nhà sàn được.

Trở lại với văn học, cho đến nay số tác giả viết về dân tộc thiểu số cũng không phải ít. Có hai nhóm tác giả chính: Tác giả là người dân tộc thiểu số viết về chính dân tộc mình, và tác giả là người Kinh viết về dân tộc thiểu số. Nhưng chúng ta cũng biết, dân tộc thiểu số không phải chỉ có một, mà có đến hơn năm mươi. Trong số đó có những dân tộc gần như không có nhà văn nào chuyên nghiệp. Và cũng không có nhà văn người Kinh nào khai thác được một cách cặn kẽ cái văn hóa của dân tộc ấy. Mà mỗi dân tộc lại chứa đựng trong mình cả một lịch sử, một kho tàng các giá trị văn hóa riêng biệt. Mênh mông rậm rạp như thế nên không phải chỉ bây giờ mà sẽ rất lâu sau này nữa, đấy vẫn là một mảnh đất vô cùng hấp dẫn đối với nhà văn.

Chúng ta có cả một Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, con số hội viên đông hơn cả Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng cá nhân tôi cảm thấy những gì mà công chúng đang có còn cách quá xa với những gì mà họ mong đợi. Và với những gì mà bản thân đã đạt được, tôi thực sự muốn nói rằng càng đi sâu vào đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số càng thấy hấp dẫn, càng bị cuốn hút, càng muốn đi tiếp, viết tiếp. Sáng tác về dân tộc thiểu số thực sự mang tới một hưng phấn. Thế nên, sẽ thật là đáng tiếc nếu ai đó có điều kiện mà lại bỏ qua.

Nhà văn ĐỖ BÍCH THÚY