Nhưng dù nắng hay mưa, dù lạnh hay nóng bức, cứ đến tháng Tư, sắc loa kèn cùng các sắc hoa lại ngập tràn trên các con phố. Những chiếc xe đạp cũ kỹ, chiếc khăn che gần hết khuôn mặt lam lũ nắng mưa... Không một tiếng rao, không một lời mời chào... Chỉ có tiếng lách tách từ râu tôm bên trong chiếc líp xe nhẹ nhàng, đều đều phát ra. Tiếng lách tách cũng nhỏ, nhỏ đến vô cùng, dường như chỉ đủ để biết có thực vòng xe, sợ làm động đến nồng nàn của hương thơm từ các mẹt hoa trên chiếc poóc-ba-ga bay theo cùng gió. Các chị cứ đi, lặng lẽ đi. Mỗi bước chân qua, mỗi vòng xe lăn, hương hoa lại tỏa. Hương hoa đã chắt chiu, tích cóp từ những giọt mồ hôi, từ những đêm mưa đổ, từ những ngày giá rét muộn màng mang đến cho người, cho đời nét cười trên khóe mắt. Cứ thế, theo chân người qua mỗi vòng xe, hương hoa đi vào trong từng con phố, ngõ nhỏ và nhẹ nhàng ở lại dưới những mái rêu phong trên phố cùng người.

Vào những ngày này, mẹ hay mua cành hoa loa kèn về cắm vào cái lọ hoa bằng sứ, nhỏ như cổ tay, buộc ép sát vào bên sườn con thuyền. Nơi ấy có ba bức tượng bằng gỗ mà cha đã đục đẽo, khoét gọt từ cái cây gỗ lập lờ trôi trên sông vớt được. Ba bức tượng đều đội mũ cánh chuồn, áo thụng, đai lưng, bụng xệ. Ba bức tượng này chỉ khi nào vào ngày mồng một, ngày rằm mới được đặt lên trên tấm ván, còn ngày thường được bỏ xuống ngăn đáy của khoang mũi. Nhà thuyền nào trong vạn chài cũng thường có ba ông tượng này. Nghĩa thực của ba ông tượng gỗ thờ cúng trên thuyền chính là khát khao của người sông nước mong ước được thoát khỏi kiếp lênh đênh, có danh, có giá với đời. Có ai cấm được ước mơ? Có ai cản ngăn khao khát? Có ai từ bỏ ước nguyện vươn lên?... Biết là thế, nhưng để thoát được kiếp mưu sinh sông nước, được cân đai mũ mão... thì trước hết là đêm đêm phải nghe được tiếng cá quẫy lòng khoang. Tồn tại luôn là nhu cầu có trước cả ước vọng và khát khao của mọi kiếp người. Và ước vọng ấy đã đi theo qua bao đời người của dân làng vạn chài nơi sông nước.

leftcenterrightdel
Ảnh minh họa

Có một tháng Tư, sắc đỏ của cờ và hoa cứ tràn dần ra hết dải đất hình chữ S khi từ các xóm làng lan xuống vạn chài, trên khuôn mặt người lấp lánh niềm vui. Tin chiến thắng từ miền Nam dội về. Đất nước thống nhất, những đứa con từ chiến trận sẽ trở về. Đất nước sẽ được xây dựng “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn”... Nhưng có lẽ, niềm mong ước lớn nhất trong mỗi căn nhà là được đón những người thân trở về sau bao năm xông pha nơi mũi tên hòn đạn để giành giật lại giang sơn đất nước...

Hạnh phúc giản đơn là được sống trong hòa bình. Khao khát cũng bình dị là được sống giữa vòng tay yêu thương, không còn chia ly. Ước mong ấy đâu chỉ có trên dải đất hình chữ S, nó là của nhân loại, của mỗi con người bất kể quốc gia, dân tộc nào. Nhưng có lẽ không ở đâu có nỗi khát vọng hòa bình lớn như dân tộc Việt Nam, bởi dân tộc này từ ngày dựng nước đã phải trải qua triền miên giặc giã hàng ngàn năm.

Một tháng Tư rực sắc đỏ cờ bay, ánh hồng trên từng khuôn mặt, nồng nàn trong mỗi vòng tay, hương hoa hòa trong hương người, trên gương mặt đời tha thiết. Cả vạn chài, nhà nào nhà nấy, cha chống sào, mẹ đưa vội tay chèo, lũ trẻ, những đứa em í ới gọi nhau lên nóc nhà thuyền đứng khua cờ rực một quãng sông. Ai cũng mong trở về nhanh nơi bến cũ, nơi người con ra đi hòa vào trong đội ngũ những người ra trận. Tiếng mái chèo mẹ khua trong nước, tiếng sóng vỗ mạn thuyền rí rách reo vui. Trên khuôn mặt hằn những vất vả, lam lũ tháng năm sông nước của cha, nét cười rạng rỡ.

Còn một tháng Tư nữa của riêng tôi. Ngày mẹ sinh tôi trong lòng thuyền, cha với tay bẻ nan cật nứa trên mái vòm khum khum che nắng, che mưa đã xám mốc, để cắt rốn cho tôi. Cha ném cái rốn xuống sông. Chiếc rốn ở lại với dòng sông. Còn tôi, lang thang theo con thuyền, cắm sào nơi đâu là quê hương ở đó. Tôi lớn lên theo con nước, theo ngày trăng, theo tiếng cá quẫy lòng khoang. Con nước đầy vơi như kiếp người lam lũ, tảo tần mưu sinh. Tiếng cá quẫy lòng khoang nói điều đói no của kiếp bồng bềnh sóng nước. Nghe tiếng cá quẫy, có ngày mẹ vui, có lúc mẹ buồn. Con cá, con tôm nuôi kiếp người sông nước, cho dân chài tồn tại qua ngày, cho những kẻ không có tấc đất cắm dùi vẫn tin vào điều ước về một ngày mai. Một ngày mai không còn là kẻ ngụ cư trên chính mảnh đất mình sinh ra và lớn lên.

Và tôi đã lớn lên cùng con nước, mùa trăng, cùng tiếng cá quẫy lòng khoang đi trên con đường người thăm thẳm. Trên con đường ấy, tôi có niềm vui, có nỗi buồn và có cả sự bầm giập của đời mang lại. Trên con đường lầm lụi ấy, tôi cứ đi, cứ nhằm về phía trước mà bước. Rồi mỗi khi bắt gặp cành hoa loa kèn, cánh cúc vàng hay bông hồng cùng tiếng lách tách theo mỗi vòng quay bánh xe của các chị lặng lẽ đi trên phố, tôi lại nhận ra, thêm một tháng Tư nữa của tôi đã đi qua...

Tản văn của PHẠM THANH KHƯƠNG