Chị đan năm ngón tay mình vào tay anh, thủ thỉ: “Anh nhớ nhắc em dậy làm cơm thắp hương để báo cáo với bố thằng Quân ngày chúng mình về với nhau anh nhé”. Anh khẽ mỉm cười. Còn ký ức chị quay về quãng thời gian thuở còn thanh xuân...

*

*       *

Là khẩu đội trưởng khẩu đội súng máy phòng không 14,5mm của dân quân xã, vừa lo việc đồng áng cấy trồng, vừa sẵn sàng trực chiến bắn trả máy bay Mỹ... bận rộn là thế nhưng để giúp anh yên tâm ra trận, không phải bận tâm lo lắng cho bố mẹ già, chị đồng ý làm lễ cưới khi vừa tròn 20 tuổi. Được gần một tuần bên nhau thì anh nhập ngũ. Nhận được tin anh vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam và sẽ hành quân qua quê nhà nhưng tình hình chiến sự đang rất căng thẳng, không một ai ở đơn vị anh được đi phép tranh thủ, bố mẹ chồng chị rất muốn có cháu bế nên nhắc chị cố thu xếp công việc đi đón anh. Nghe lời bố mẹ, chị lóc cóc đạp cái xe Thống Nhất cà tàng từ nhà ở nơi miền đông phía biển xa xôi sang tuyến đường Trường Sơn phía rừng núi miền tây chờ anh. May mắn làm sao, chị đạp xe vượt quãng đường gần trăm cây số đến khu vực “chảo lửa” ngã ba vào lúc sâm sẩm chiều thì đơn vị anh cũng vừa hành quân đến.

leftcenterrightdel
Minh họa: MẠNH TIẾN

Chiếc ba lô to nặng khiến anh hơi ngả về phía sau, mà trên vai còn gác chiếc đòn tre cùng một đồng đội khiêng thân khẩu súng 12,7mm nặng hơn 30kg nên bước đi có lúc tưởng như không vững. Nhóm khiêng thân súng, nhóm khiêng chân súng, nhóm khiêng bệ súng và hộp tiếp đạn đều có trọng lượng tương đương nhau, những người không khiêng thì vác thùng đạn bảo đảm đủ cơ số cho một trận đánh. Chả thế mà chị thấy mấy anh tếu táo gọi vui là “12 ly vác”. Đêm ấy, chị và anh được đơn vị tạo cho một “buồng hạnh phúc” rất đặc biệt với “cái giường” trải toàn lá rừng, chung quanh đóng cọc và quây kín cũng bằng những cành lá rừng, trên mái che tấm tăng lớn. Đại đội trưởng cùng anh em tiểu đội trở về võng nằm nghỉ sau một hồi chúc tụng ồn ào góc bãi khách binh trạm cùng những lời trêu đùa lém lỉnh. Đêm chìm xuống dưới tán lá rừng rậm rịt chở che ve vuốt dần đưa những người lính vào giấc ngủ sau một ngày hành quân mệt nhọc. Trong “buồng”, chị và anh nói về những đứa con, về tương lai của chúng qua hơi thở dồn dập cả hai dành trọn cho nhau...

Chị trở mình quàng tay qua anh ngắm nhìn gương mặt sạm màu nắng gió, bâng khuâng nghe tiếng đôi chim từ quy khắc khoải gọi nhau dưới tán rừng già lúc như gần mà lúc lại thấy xa ngái vô cùng. Bỗng, qua kẽ lá, ở góc rừng lộ dần một quầng ánh sáng mờ ảo xiên qua tán lá dày lấp loáng từng gốc cây, soi rõ từng mái tăng cánh võng của anh em chiến sĩ trong bãi khách. Trăng lên. Phải rồi, chị nhẩm tính. Chị đi đón anh ngày 25 âm lịch là ngày gần cuối tháng. Hèn chi giờ này trăng mới lên. Trăng muộn. Trời đã sắp sáng rồi. Thương anh một ngày hành quân vất vả rồi đêm lại “hành quân” như đồng đội trêu chọc anh. Sáng sớm, chị chia tay anh và đơn vị để anh không bị “phân tâm” bởi chuyện gia đình, vợ con níu kéo, yên tâm vào chiến trường đánh giặc.

*

*       *

Đọc thư của con trai do chị cầm về, bố mẹ chồng thương con dâu vất vả và càng tin tưởng người con dâu đảm đang, tháo vát, biết lo toan, hiếu thảo. Nhưng chị không thể ngờ được đó lại là lần cuối cùng chị được ở bên anh. Chị đã bặt tin anh. Những gia đình có người đi đợt ấy xì xào bảo nhau: Các anh vào sâu lắm. Nghe đâu ở tận B2 miền đồng bằng sông nước Cửu Long nên chẳng có đường thư ra ngoài này...

Giữa những ngày tin vui thắng trận từng giờ, từng phút phát trên đài truyền thanh báo hiệu cho những trận đánh quyết định giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vào cuối chiều một ngày oi ả đầu tháng 5 rực đỏ hoa phượng vĩ, có một anh bộ đội đeo ba lô cóc, túi xắc cốt căng phồng hỏi đường đến nhà chị. Hướng ra phía cửa với đôi mắt kèm nhèm hấp háy, mẹ chồng chị bước thấp bước cao chạy ra sân, ôm chầm lấy anh: “Con trai của mẹ, thế là con đã về rồi! Hoàn ơi, chồng con về rồi. Quân ơi, bố cháu về rồi này. Cả làng ơi, con trai tôi đã về, con trai tôi đã về...”. Anh bộ đội giữ chặt tấm thân gầy guộc để mẹ không khuỵu xuống, lặng lẽ lau những giọt nước mắt trên khuôn mặt đã nhòe lệ từ lúc nào của mẹ và của cả anh nữa. Từ ngoài đồng, chị ống thấp ống cao chạy bổ về nhà. Khi nhìn thấy mẹ chồng cùng anh bộ đội, chị đứng như trời trồng rồi sụp xuống bậc cửa. Vừa lúc Quân đi học về, nó vội đỡ mẹ và ngơ ngác nhìn bà với chú bộ đội rồi quay lại nhìn mẹ mà chưa hiểu chuyện gì xảy ra. Nó ngắm nghía chú bộ đội hồi lâu và khẳng định đấy không phải là bố vì nó thuộc từng đường nét trên khuôn mặt bố qua tấm ảnh đánh cu-lơ treo trong nhà.

Anh bộ đội là người được đơn vị cử về báo tin chồng chị đã hy sinh trong một trận chiến đấu ác liệt khi chỉ huy tiểu đội hỏa lực 12,7mm phối thuộc với đại đội bộ binh đánh lui hàng chục đợt phản kích và tiêu diệt gần một tiểu đoàn địch, giữ vững trận địa chốt. Mẹ chồng chị cứ giữ chặt lấy anh không rời nửa bước: “Con trai tôi đây mà. Sao các ông bà lại bảo là nó đã hy sinh...”. Rồi mẹ với tay lên xoa khắp mặt mũi, tay chân anh, miệng lẩm bẩm: “Đúng là con trai tôi đây rồi. Thằng Quảng đây rồi. Mẹ Hoàn đi nấu cơm cho bố nó đi nào. Mẹ nó còn nhớ bố nó thích nhất món canh cá nấu khế chua không? Cây khế ngoài vườn còn nhiều quả đấy. Nấu nhanh lên không bố nó đói rồi. Rõ khổ, bao nhiêu năm mới lại được ăn bữa cơm nhà...”. Như một cái máy, chị tất tả làm theo ý mẹ chồng và anh bộ đội cũng chẳng đành lòng ra về. Tin chồng chị hy sinh loang đi khắp xóm. Chưa kịp ăn xong bữa tối thì ông chủ tịch ủy ban hành chính đi với mấy vị cán bộ xã, cùng một đoàn bà con lối xóm đến thăm hỏi chia buồn và nắm thêm tình hình. Mẹ chồng chị không rời anh bộ đội và cứ khăng khăng với mọi người đấy là con trai của mẹ. Chứng kiến cảnh ấy, ông chủ tịch ủy ban hành chính, bà chủ tịch hội phụ nữ xã và bà con rất thông cảm với mẹ, đồng thời khuyên anh bộ đội nên nghỉ lại động viên mẹ rồi mai sẽ tính. Nhà anh cũng ở tỉnh này nhưng khác huyện. Anh đã tranh thủ ghé về qua nhà để bố anh cùng hai đứa con yên tâm, còn vợ anh đã lâm bệnh nặng qua đời cách đây hơn 5 năm. Trao lại chiếc ba lô cùng những kỷ vật của anh Quảng cho chị, anh thu xếp ở lại trò chuyện thâu đêm bên mẹ...

*

*       *

Hơn một năm đi lại thăm mẹ, khi giúp chị cày ải hơn hai sào ruộng khoán, lúc cùng mấy anh em hội cựu chiến binh đảo ngói lợp lại mái ba gian nhà, làm lại cái bếp cho chắc chắn hơn... tạo điều kiện để cháu Quân yên tâm đi học sĩ quan quân sự ở nước ngoài, anh chị đã hẹn ước với nhau trong niềm vui khôn tả của mẹ và anh cũng coi mẹ chồng chị như mẹ đẻ của mình. Mãn việc tang bố, anh giao cho vợ chồng con trai lớn quản lý nhà vườn, lo việc cưới hỏi và thu xếp công ăn việc làm ổn định cho cô con gái, anh chị quyết định chọn tổ chức lễ cưới cho mình vào ngày 25 tháng Tám âm lịch, cũng là mùa trăng muộn và anh dọn sang ở hẳn bên này để được cùng chị chăm sóc mẹ.

Nghe câu chuyện “buồng hạnh phúc” năm nào của chị với người đồng đội đã hy sinh, anh thủ thỉ động viên: “Dù sao thì đôi chim từ quy cũng lại gặp được nhau phải không em? Chúng gặp nhau là trời đã sắp sáng rồi. Nghỉ một lúc đi kẻo mệt”. Chị nép mình trong vòng tay thô ráp của anh dưới ánh trăng hạ tuần trắng ngà lung linh trào qua khe cửa sổ. “Trăng muộn mà sáng!”. Chị cứ ngỡ là mơ...

Truyện ngắn của KHÚC VĂN QUÝ