Từ khi trở về từ chiến trường Việt Nam, họ đã trở thành những cựu binh phản chiến và viết sách nói về cuộc chiến mà trong cách nhìn của họ cũng như hiện thực về con người, văn hóa và đất nước Việt Nam đã cho họ một cái nhìn về sự thất bại của người Mỹ.
Cho đến nay, nước Mỹ đã xuất bản hàng nghìn đầu sách với nhiều thể loại về cuộc chiến tranh Việt Nam. Tất cả chỉ đi tìm câu trả lời về sự thật cuộc chiến và thất bại của họ. Và những nhà văn, nhà thơ Mỹ ở Trung tâm William Joiner đã có một phát hiện mà họ gọi đó là “phát hiện lớn nhất về chiến tranh Việt Nam”.
Năm 1994, tập thơ đầu tiên của nhiều tác giả Việt Nam đã được Nhà xuất bản báo chí, Đại học Massachusetts ấn hành. Tập thơ mang tên “Thơ từ những tài liệu bị bắt giữ” (Poems from the Captured documents) do nhà thơ Bruce Weigle và Tiến sĩ Kim Thanh dịch. Đây là tập thơ hiện đại đầu tiên của Việt Nam được dịch và phát hành tại Mỹ sau chiến tranh. Nguồn gốc nào dẫn đến sự ra đời của tập thơ này? Trong chiến tranh, tình báo quân đội Mỹ đã thu giữ rất nhiều tài liệu từ những người lính giải phóng hy sinh, bị bắt và tài liệu thất lạc. Đó là sổ tay ghi chép, thư từ, phiếu xuất lương thực, đạn dược, đơn xin vào Đảng, biên bản cuộc họp, nhật ký… Sau chiến tranh, quân đội Mỹ đã giải mật các tài liệu này. Tôi nghe nói số tài liệu này được lưu trữ trong mấy nghìn mét micro phim đã được trao tặng Bộ Ngoại giao Việt Nam. Trường Đại học Massachusetts đã mua lại bản sao kho tài liệu đó. Các nhà văn, nhà thơ của Trung tâm William Joiner bắt đầu khai thác kho tư liệu. Họ đã phát hiện ra một điều vô cùng đặc biệt và kỳ lạ: Hình ảnh mà chủ nhân của những cuốn sổ tay hay giấy tờ ấy đều vẽ là những con chim hòa bình và một loại văn bản được ghi chép trong hầu hết các cuốn sổ tay và giấy tờ ấy là những bài thơ. Những bài thơ đó không nói về cái chết hay nỗi sợ hãi, không mang nỗi thù hận hay nguyền rủa những kẻ xâm lược. Tràn ngập những bài thơ đó là tình cảm về đất nước, làng quê, về mẹ, vợ, về người yêu và giấc mơ lớn nhất hiện lên trong những bài thơ ấy là giấc mơ được trở về cày cấy, gieo hạt, dựng cửa dựng nhà, lấy vợ sinh con sau khi chiến tranh kết thúc; như tổ tiên, ông bà họ từ ngàn đời nay trên dải đất hình chữ S này.
Trong buổi ra mắt tập thơ này, tôi vinh dự được mời đọc một số bài thơ trong tập thơ bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi đã đọc những câu thơ mộc mạc, giản dị ấy trong sự xúc động không cầm được nước mắt và tôi đã nói về những người lính ấy. Một điều đặc biệt là những bài thơ trong tập thơ đó là sáng tác của những người lính thực thụ. Chỉ duy nhất một bài thơ của một nhà thơ “vô tình” lọt vào cuốn sách. Đó là bài "Núi Đôi" của nhà thơ Vũ Cao. Một người lính giải phóng nào đó yêu bài thơ "Núi Đôi" đã chép lại trong sổ tay của mình. Chính vì những bài thơ không phải của các nhà thơ mà là của những người lính bình thường đã làm “chấn động” người đọc Mỹ. Và nhà thơ Kevin Bowen, một cựu binh từng tham chiến ở núi Bà Đen (Tây Ninh) đã phát biểu trong buổi ra mắt tập thơ này: “Tập thơ là sự phát hiện lớn nhất về chiến tranh Việt Nam, bởi đó là phát hiện về tâm hồn và văn hóa của một đất nước”.
Cùng với các bài thơ là những cuốn nhật ký của những người lính giải phóng. Trong chuyến đi Mỹ năm 1994, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã photocopy nhiều trang nhật ký của đồng đội mình từ kho tài liệu ấy. Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết về điều này và trích khá nhiều đoạn trong các cuốn nhật ký. Bài viết của nhà thơ Phạm Tiến Duật đã được in nhiều kỳ trên Báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhà thơ, Giáo sư văn học Larry Rottman, cựu binh Mỹ tham chiến ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đã sáng tạo ra một lớp học có một không hai về chiến tranh Việt Nam. Ông chọn lọc các trang nhật ký của những lính Mỹ tham chiến và nhật ký của những người lính giải phóng Việt Nam làm tài liệu giảng dạy. Trong lớp học, ông cho một sinh viên đóng vai một lính Mỹ và một sinh viên đóng vai một người lính giải phóng Việt Nam. Hai “người lính” này đứng đối diện nhau và đọc xen kẽ những trang nhật ký của mình. Từ đó, sinh viên và những người khác tham dự lớp học có thể nhận ra những gì mà mỗi người lính của hai phía mang vào cuộc chiến tranh. Và những người Mỹ đã nghe thấy gì? Họ nghe thấy sự hoảng sợ, tức giận, ngờ vực, giày vò và nguyền rủa chiến tranh từ những lính Mỹ. Họ nghe thấy những dòng của thương nhớ, của khát vọng và những giấc mơ đẹp đẽ từ những người lính giải phóng Việt Nam. Đó chính là thứ vũ khí quan trọng nhất cho mọi đội quân trong toàn bộ lịch sử chiến tranh của loài người. Hệ thống CIA (Tình báo Trung ương Mỹ) và DIA (Tình báo quân đội Mỹ) có thể chỉ phát hiện được những bí mật liên quan đến vũ khí và các kế hoạch của quân đội đối phương, chứ không thể nào biết được những bí mật của một nền văn hóa. Chỉ bằng văn hóa, người ta mới có thể hiểu được một nền văn hóa khác. Và việc phát hiện ra những vẻ đẹp của con người và văn hóa Việt Nam chính là phát hiện lớn nhất của người Mỹ trong cuộc chiến tranh mà họ tiến hành.
Bởi vậy mà sau chiến tranh, những cựu binh Mỹ đã trở lại Việt Nam và mở ra những cánh cửa cho người Mỹ “phát hiện” đất nước này. Vì lẽ đó mà trong dịp kỷ niệm 30 năm hợp tác văn học giữa những nhà văn cựu binh Mỹ và nhà văn Việt Nam, Thị trưởng thành phố Boston của bang Massachusetts đã quyết định có “Ngày Kevin Bowen” để vinh danh công trạng của ông với một trong những lý do vô cùng quan trọng được ghi trong quyết định: “Ông (nhà thơ Kevin Bowen) đã làm cho người Mỹ hiểu sâu sắc hơn nền văn hóa của kẻ thù cũ: Việt Nam!”.
Nhà văn NGUYỄN QUANG THIỀU