Năm 1941, cuộc sống bình yên bị phá vỡ khi phát xít Đức gây hấn, Liên Xô bước vào cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945) . Lần đầu tiên trong đời, cậu bé Aleksey Batalov phải xa thành phố. Phải đi sơ tán với mẹ nhưng niềm đam mê nghệ thuật trong lòng cậu bé mười ba tuổi không ngừng được nuôi dưỡng. Tại nơi sơ tán Bugulma, Aleksey trở thành người trợ giúp hậu trường tại Nhà hát Bugulma và có vai diễn đầu tiên trên sân khấu nhà hát này khi mới 14 tuổi. Chiến tranh kết thúc, Aleksey Batalov vào học tại Nhà hát Nghệ thuật Moscow rồi kết hôn với người bạn thời thơ ấu Irina Oral. Năm 1953, ông rời nhà hát để tập trung vào điện ảnh. Một năm sau, Aleksey Batalov vào vai người con út trong gia đình ba thế hệ nhà Zhurbins trong bộ phim “Đại gia đình” (Big family). “Đại gia đình” là bộ phim đánh dấu giai đoạn khởi sắc trong sự nghiệp điện ảnh của ông. “Đại gia đình” đã giành Giải diễn xuất đặc biệt tại Liên hoan phim Cannes năm 1955. Khi nhận vai diễn trong phim “Đại gia đình”, Aleksey phải đến làm việc tại Leningrad (Saint Petersburg). Tối đến, chàng trai Aleksey ngủ nhờ trên chiếc võng trong nhà một người đạo diễn còn khẩu phần ăn thì thường rất eo hẹp. Ở thời khó khăn đó, có lẽ chỉ có ngọn lửa đam mê mới đủ để sưởi ấm những ngày đông lạnh giá và ủ ấm chiếc dạ dày chẳng mấy khi được đầy.
Aleksey Batalov và Tatyana Samoylova trong bộ phim "Khi đàn sếu bay qua". Ảnh: mk.ru
Sau “Đại gia đình”, Aleksey còn tham gia vào nhiều bộ phim của các đạo diễn Liên Xô nổi tiếng, nhưng có hai bộ phim để lại nhiều dấu ấn trong lòng khán giả thế giới và định hình nên một Aleksey cao cả, điển hình cho con người mới, bất vị kỷ, sẵn sàng xả thân vì tổ quốc và lý tưởng. Đó là bộ phim “Khi đàn sếu bay qua” (The cranes are flying) đóng máy năm 1957 và “Moscow không tin vào nước mắt” (Moscow does not believe in tears) sản xuất năm 1979.
Trong “Khi đàn bay sếu bay qua”, nhân vật người công nhân tình nguyện gia nhập Hồng quân Liên Xô trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại đã tạo dấu ấn sâu sắc trong lòng người xem. Người chiến sĩ Hồng quân đó không trở về, nhưng đã khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn và ý chí kiên quyết buộc chiến tranh phải quỳ gối trước hòa bình và ước mơ hạnh phúc. Bộ phim cũng vạch trần tâm địa của những kẻ tìm mọi cách để được miễn nghĩa vụ quân sự nhưng lại ti tiện chiếm đoạt cuộc đời người con gái đang đợi chờ người chiến sĩ Hồng quân chiến đấu ngoài mặt trận. Nếu “Khi đàn sếu bay qua” là bản anh hùng ca người chiến sĩ trong Chiến tranh Vệ quốc thì “Moscow không tin vào nước mắt” lại là bản xô-nát êm đềm nhưng không thiếu những trường đoạn dữ dội về cuộc sống nơi thành phố Moscow trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Cô gái bị ruồng bỏ cùng đứa con trong bụng Katerina và người đàn ông bị vợ bỏ Gosha sau nhiều khó khăn cuối cùng cũng tìm được hạnh phúc của mình. Bộ phim nhắn nhủ nước mắt không làm nên thành công, chỉ nỗ lực mới đem lại điều mình mong đợi và hơn hết thảy chỉ tình yêu và sự chân thành mới đem lại hạnh phúc đích thực. “Khi đàn sếu bay qua” đã đoạt Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes năm 1958 và “Moscow không tin vào nước mắt” đoạt Giải phim tiếng nước ngoài xuất sắc nhất tại Oscar 1981. Hai bộ phim, hai giai đoạn điện ảnh, đã khẳng định tài năng diễn xuất của Aleksey.
Người ta nói những vai diễn đã vào cuộc đời Aleksey. Cuộc hôn nhân với người vợ đầu đã bắt đầu rạn nứt ngay ở những năm giữa thập niên 1950 khi ông luôn phải xa nhà với lịch đóng phim dày đặc. Cũng giống như người công nhân Boris lên đường ra mặt trận trong “Khi đàn sếu bay qua”, ông đã phải hy sinh cuộc sống hôn nhân để theo con đường diễn xuất. Và cũng giống như “Moscow không tin vào nước mắt”, ông cũng tìm được hạnh phúc đích thực trong cuộc hôn nhân thứ hai, dẫu còn nhiều thiệt thòi. Năm 1963, Aleksey Batalov kết hôn lần hai với Gitana Leontenko và họ sống bên nhau đến cuối đời. Năm năm sau đám cưới với Gitana, cô con gái Mary ra đời nhưng bị ảnh hưởng bởi chứng bại não. Thế nhưng, Mary đã vượt qua số phận, vươn lên thần kỳ trong cuộc sống, tốt nghiệp Khoa viết kịch bản Trường Đại học Điện ảnh quốc gia Liên bang Nga và trở thành hội viên Hội Nhà văn Liên Xô. Nhà văn Mary Batalov đã nói rằng, bà "thừa kế" nghị lực từ người cha-Aleksey.
Những thành công và đóng góp không mệt mỏi của Aleksey đã được ghi nhận với nhiều giải thưởng và danh hiệu, trong đó cao quý nhất là Huân chương Lênin (1967, 1989), danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân Liên Xô (1976), danh hiệu Anh hùng Lao động (1989) và Giải thưởng Thành tựu trọn đời (2007). Thế nhưng với Aleksey Batalov, không có phần thưởng nào cao quý hơn tình yêu của khán giả khắp nơi trên thế giới. Tình yêu đó thật rõ ràng như câu hát trong đoạn kết của bộ phim “Moscow không tin vào nước mắt”: Moscow chẳng thể được xây lên trong một ngày... Moscow chỉ tin vào tình yêu. Với Aleksey, thành công không có chỗ cho sự lười biếng và thành công trong điện ảnh chỉ có thể đạt được khi có được tình yêu của khán giả. Và khi “đàn sếu bay đi”, người hâm mộ biết rằng sẽ là bay về nơi không nước mắt!
THỤY CHI