Trải qua biến thiên lịch sử, làng Cựu dường như cũng dần khép mình hơn. Dân làng Cựu ít nói, nụ cười ẩn chứa nỗi buồn man mác. Là con rể làng Cựu, tôi đã định mấy lần đem chuyện này hỏi mẹ vợ nhưng lại thôi.

leftcenterrightdel
Đến làng Cựu, du khách sẽ khó bắt gặp những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi.

Điều tôi thích nhất ở làng Cựu chính là hàng dài tường nhà, biệt phủ rêu phong cổ kính. Những năm trước Cách mạng Tháng Tám, làng Cựu có lẽ là một trong những ngôi làng giàu có, thịnh vượng nhất Đồng bằng Bắc Bộ. Người làng có nghề thợ may, được người Pháp và giới tư sản Hà thành, Sài Gòn tín nhiệm nên đơn đặt hàng làm không xuể. Và cũng chẳng biết tự bao giờ, làng Cựu đã nổi tiếng là làng thợ may “đệ nhất Hà thành”.

Những năm 30 của thế kỷ trước có lẽ là buổi hoàng kim của làng. Dân làng kiếm được nhiều tiền từ nghề thợ may, tích cóp nhiều đời đã nhanh chóng trở thành tầng lớp thượng lưu ở Hà Nội lẫn Sài Gòn. Thương nhớ quê hương, những người con đi làm ăn xa quê vẫn không quên gửi tiền về báo hiếu ông bà, bố mẹ. Thế rồi những nóc nhà mang phong cách châu Âu dần mọc lên ở làng Cựu, xét vào thời điểm những năm 30 của thế kỷ trước, thì quả là một cuộc cách mạng về xây dựng.

“Làng Tây”, đến giờ không ít người vẫn quen gọi làng Cựu như vậy. Cái hay của ngôi làng nằm bên bờ sông Nhuệ này là đình làng, ngõ xóm vẫn mang đậm phong cách, kiến trúc Việt. Và ngay cả những biệt phủ nguy nga trong làng, vẫn còn đó nguyên vẹn kiến trúc quyển thư, ngõ hầu nhắc nhở con cháu chăm chỉ việc đèn sách. Nếu tinh ý sẽ nhận thấy nhà nào trước đây của giới làm ăn buôn bán, và nhà nào thuộc dòng dõi quan lại. Nhà của dân kinh doanh thường ngõ cổng thênh thang, lát đá xanh; nhiều gia đình xây nhà đôi ở hai mặt ngõ, sau nối nhà bằng cầu bê tông ở tầng 2. Dễ thường ngày trước các chị, các mẹ vẫn hay diện váy, ngắm hội làng từ trên cao. Quan lại thì nền nhà tôn cao, sân rộng, tòa ngang dãy dọc, trong nhà kiểu gì cũng vài hàng cột gỗ lim to.

leftcenterrightdel
Những ngôi nhà cổ ở làng Cựu có tuổi đời gần trăm năm.

Trong làng có nhiều ngõ nhỏ, hình như từ xa xưa người làng đã có chủ ý “chia lô”, phân định tôn ti trật tự. Không biết có phải ý tứ như vậy không nhưng ở xóm Cả có nhiều gia đình là con cả, hoặc là người đứng đầu một dòng tộc. Dù đi đâu làm gì, người làng Cả vẫn thường xuyên nhắc nhở con cháu về đạo hiếu học, trên thì lễ hiếu với ông bà, bố mẹ, dưới thì nhường nhịn, bảo ban ân cần. Mấy bữa nay tiết trời dịu mát, rảo bước trong làng cảm thấy tâm trạng thư thái. Những bức phù điêu hình tôm, hình dơi, hàng dài cánh cổng rêu phong, những bức đại tự, câu đối đã nhuốm màu thời gian, dường như giúp cho cuộc sống trong làng Cựu thêm chậm lại. Tại đình làng, mấy cụ phụ lão đang mải mê bên bàn cờ. Đám con cháu được người lớn sai ra đình gọi các cụ về dùng bữa cũng mải mê với xe, pháo, mã..., tranh luận nước đi vang cả góc làng, chẳng biết các cụ đang chơi hay đám con cháu chơi nữa. Có điều, cụ ông khó đổi pháo lấy xe lắm vì đứa cháu cứ thích “ông phải giữ cho cháu cặp pháo cơ”.

Tan cờ, ông cháu dìu nhau thong dong trên đường làng, mặc cho người nhà í ới điện thoại giục về ăn cơm. Đến cổng biệt phủ nhà họ Trần, ông hỏi: “Cháu có biết vì sao nhà này lại có hai cổng không?”. “Dạ, thưa ông, không ạ!”. Đây là cổng ăn chơi, còn kia là cổng làm ăn nhé. Đời người nếu cứ chỉ làm ăn thôi, mà quên đi những việc khác thì uổng. Nhưng nếu chỉ ham hố ăn chơi, mà không chịu làm ăn thì là con đường nhanh nhất đến với sự nghèo. Dòng họ Trần làm cổng ăn chơi có ý dặn con cháu đời sau ăn chơi cũng phải chuẩn, ra dáng, bởi thế mà cổng này mới đề chữ “hào hoa phong nhã”. Cổng làm ăn thì đề đôi câu đối “Phúc điền diễn tác vinh hoa lộ/ Hải lượng phiên thành phú quý môn” (tạm dịch: Đường vinh hoa nhiều như ruộng canh tác/ Phú quý vào cửa nhà dồi dào như nước biển). Đứa cháu nhìn ông ra chiều đăm chiêu, thực tình nó chỉ muốn hỏi ông về mấy nước cờ lúc nãy. Hiểu ý cháu, ông bảo: “Cứ chịu khó học cho giỏi, sống tốt, xứng đáng là người làng Cựu, rồi ông sẽ chỉ cho mấy nước cờ hay”.

Bài và ảnh: ĐỖ TUẤN - LÊ BÍCH