Thời bao cấp, nhà nào ở Thủ đô có giếng là hơi bị oách. Ngõ nhà tôi vốn chuyên nghề làm đậu phụ, nên cứ vài nhà lại có một cái giếng. Giếng dùng chung cho đại gia đình, cho dòng họ và cho cả bà con chòm xóm.

Cùng là một dãy giếng nhưng có giếng nước hơi thum thủm mùi ao, có giếng nước hơi vàng nhưng đột nhiên tinh túy có giếng nước trong vắt, mát ngọt, giặt quần áo hay để thổi cơm thì miễn chê. “Con gà tức nhau tiếng gáy”, chủ giếng kề bên bảo không biết để pha nước chè thì thế nào? Thôi, nước chè đã có bể nước mưa nhà bác rồi còn gì. Cứ khéo nhường nhau một chút thì có sao đâu. Nước giếng, nước mưa, miếng ăn chia ngọt sẻ bùi còn được, ai lại đi để bụng mấy câu nói.

leftcenterrightdel
Một “mắt ngọc” tuyệt đẹp ở ngoại thành Hà Nội. Ảnh: XUÂN CHÍNH

Buổi trưa đi học về mà thấy vòi nước công cộng ở ngã ba ngõ không bóng dáng trẻ con, biết ngay mất nước. Trời nắng chang chang, nước rỉ từng giọt, từng giọt như đồng hồ nhảy kim giây, khiến người già, con trẻ cứ đi ra đi vào, chốc chốc lại mở nắp thùng nhựa xem có còn đủ nước dùng cho bữa cơm chiều hay không? Những lúc như thế, bên bờ giếng nước nhà tôi đông vui lắm. Thực tình, giếng nhà dùng để giặt ổn ra trò, áo không bị ố; rửa rau, vo gạo cũng được nhưng ông nội tôi lúc còn sống vẫn dặn bà con “để thổi cơm thì không ngon lắm”. “Cụ cẩn thận quá”, mấy chị hàng xóm cứ ôm bụng cười mỗi khi ông nhắc khéo. Gạo tấm thóc nhiều vô kẻ, sạn đen nhìn rõ mồn một, có nấu nước máy Phần Lan giờ chắc cũng đến vậy. Thành ra tôi biết nhiều nhà vẫn cứ vô tư dùng nước giếng nhà mình thổi cơm. Có bận ăn cơm nhà bà Cậy hàng xóm cảm giác rất ngon, tôi thầm nghĩ, đúng là ông nội tôi cẩn thận quá thôi.

Sau này ở ngõ, ở làng Kim Mã thượng, Kim Mã hạ, từng cái giếng bị lấp đi nhưng nhà tôi vẫn giữ cho bằng được. Nước máy giờ dùng thoải mái, nước mưa (như mùa này) quá nhiều nên chẳng mấy ai dùng nước giếng nữa. Thành giếng đôi chỗ đã nhuốm màu rêu phong của thời gian. Nhưng sau những trận mưa rào mấy hôm nước giếng lại trong vắt nhìn kỹ có thể tới đáy.

Đột nhiên một hôm mẹ tôi bảo “phải lấp giếng thôi con à”. “Sao thế mẹ?”. “Hàng xóm giờ đông em bé quá, nhỡ không may ngã xuống giếng thì nhà mình ân hận cả đời”. “Vâng, tùy mẹ”. Tôi nói vậy nhưng kỳ thực trong lòng rất buồn. Phải có cách nào chứ nhỉ? Cứ nghĩ đến việc lấp giếng, tôi có cảm giác như một ai đó vác dao chặt cây đa ở làng vậy. Như đọc được suy nghĩ bấy lâu của tôi, chị Mai hàng xóm mang ngay một tờ báo sang rồi đọc cho tôi nghe mấy dòng thông tin đăng trên bài báo nói về làng Yên Thái xưa, đại loại rằng: “Ngày trước, đối diện Cổng Giếng của làng Yên Thái có một giếng nước, tạo nên khung cảnh hữu tình nên cổng làng mới có tên gọi Cổng Giếng. Nước giếng trong vắt, mạch nước dồi dào đủ nước sinh hoạt cho cả ba làng: Yên Thái, An Thọ, Đông Xã. Đến năm 1976, thành giếng bằng đá bị xe ô tô xô đổ, rơi xuống giếng và có lẽ vô tình lấp luôn mạch nước. Giếng cạn nước dần trong khi lại có nước máy nên người ta mới lấp giếng luôn. Đến bây giờ, nhiều người làng Yên Thái vẫn còn nuối tiếc...”.

Nghe chị Mai đọc đến đây, tôi như tìm được lời giải cho cả nhà: “Thôi không lấp giếng nữa!”.

Và quả thực đêm đó tôi không chợp mắt được. Tôi thử tưởng tượng cảnh giếng bị lấp sẽ khiến mình tiếc nuối đến nhường nào. Mấy hôm vừa rồi trời đổ mưa liên miên, nước giếng trong vắt nôn nao mùi bao cấp. Mấy gia đình trong ngõ lôi chăn, chiếu ra giặt, tiếng nói cười vang vọng xuống cả giếng. Một vài thanh niên còn hào hứng múc nước giội ào ào lên người. Chứng kiến cảnh đó tôi vui đến lạ. Bất chợt tôi lại cảm thấy nhớ ông nội đến nao lòng.

MỘC MIÊN