Sử sách lưu truyền, nghề làm giấy xuất hiện ở Hà Nội rất sớm, ngót ngàn năm nay. Nhân dân ở vùng Cầu Giấy truyền tụng, từ đời Nhà Lý, ở làng Dịch Vọng (nay là đầu phố Trần Thái Tông, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) đã có những gia đình chuyên làm giấy. Hồi ấy, con sông Tô Lịch còn chảy qua vùng đó. Để ghi lại niềm tự hào về nghề truyền thống của mình, người ta đã đặt cho cây cầu bắc qua sông Tô Lịch ở gần làng Dịch Vọng cái tên Cầu Giấy... Đến thế kỷ 15, ở làng Bưởi cạnh Hồ Tây, xuất hiện phường làm giấy Yên Thái phát triển ngày càng mạnh. Nhịp chày giã vỏ dó ở đấy "dội xuống mặt nước Hồ Tây gợi cảm hứng cho những tâm hồn giàu thi tứ", làm xuất hiện những câu thơ rất đẹp, trong đó tiêu biểu là câu: "Mịt mù khói tỏa ngàn sương/ Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ", hay "Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng/ Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co".

leftcenterrightdel
Nghề làm giấy ở Yên Thái xưa.  Ảnh tư liệu 

Bến sông Hà Nội ngày đó là nơi thu hút những bè vỏ dó còn tươi từ mạn Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì xuôi về. Phường làm giấy Yên Thái là bạn hàng chí cốt của cơ sở bán vỏ dó nổi tiếng: Phố Ẻn, bên bờ sông Thao. Vỏ dó ở đấy có chất lượng tốt. Vì thế mới có câu: "Ai ơi mua dó khó lòng/ Không lên phố Ẻn còn mong nỗi gì". Vỏ dó tươi mang về Yên Thái được sơ chế theo quy trình kỹ thuật tới khi chỉ còn phần vỏ trắng muốt. Đây là lúc "nhịp chày Yên Thái" vang rền-giã dó nát ra như bùn trắng loãng. Giã dó là việc dành riêng cho đàn ông, nhất là trai trẻ, vì không đơn giản chút nào. Muốn dó tan nhuyễn, phải giã liên tục suốt ngày đêm.

Trong khi giã dó, người con trai đã nghĩ tới quy trình tiếp theo là: Cho bùn dó vào "tàu seo" (bể nước trong hòa một thứ keo được chế từ nhựa gỗ cây mò), trộn đều theo tỷ lệ quy định rồi đem tráng trên liềm seo. (Liềm seo là cái khuôn gỗ rộng bằng tờ giấy A4 bây giờ, hoặc to nhỏ hơn tùy theo mặt hàng này mà chủ hàng định ra, có căng thật thẳng trên mặt một lưới mắt vuông, diện tích mỗi mắt chừng 1mm2). Đặt liềm seo vừa tráng bột dó ấy lên giàn ngang để nước rơi hết, còn lại lớp bột trên liềm. Nước ráo đến đâu, bột dó se đến đấy. Tiếp theo, tờ giấy hoàn thiện dần qua các công đoạn uốn, ép, bóc uốn, sấy, can phẳng... Toàn bộ công đoạn này vừa liên tục, vừa đòi hỏi khéo léo, nên thường do các bà, các chị, các cô gái làm.

Từ việc giã dó đến tờ giấy ra đời, chứa chất biết bao tình người lao động, được kết tinh thành thi ca (xem “Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội”). Nếu như trong hành trình ấy, các bà, các cô nghĩ: "Seo đêm rồi lại seo ngày/ Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi/.../ Tàu seo nước giá như đồng/ Tay đưa liềm giấy mà lòng nhớ ai", "Đêm qua bóc uốn một mình/ Nghe hơi sương sớm nhớ tình nhân xưa", "Tay can lòng những nhủ lòng/ Ở đây ấm áp lạnh lùng thương ai"... thì trong lúc khua những nhịp chày giã dó, các chàng trai đã xốn xang trong lòng: "Giã nay rồi lại giã mai/ Đôi chân tê mỏi, dó ơi vì mày", "Nhịp chày giã dó nhặt thưa/ Đèn le lói sáng, lòng ngơ ngẩn buồn/ Nhớ ai mê mẩn tâm hồn/ Thương ai mong đợi mỏi mòn tháng năm"... Hẳn là người con trai đang giã dó đã nghĩ đến người con gái bên tàu seo đang mong mỏi bùn dó đến tay mình để seo giấy. Các anh cũng liên tưởng đến những tờ giấy trắng đẹp, như kết quả của tình người lao động, như một mối lương duyên đã nên trang lứa...

Đã qua ngàn năm những nhịp chày giã dó Yên Thái, giờ đây, những trang giấy Việt "đẹp như Kiều" đã ra đời và luôn đồng hành với người dân trong nhịp sống hiện đại. Mỗi lần viết những dòng chữ lên từng trang giấy trắng ấy, trong tôi lại liên tưởng đến "nhịp chày Yên Thái" của một vùng quê Hà Nội ngày xưa như còn vang vọng đâu đây...

PHẠM XƯỞNG