Văn hóa là lĩnh vực nhạy cảm, do vậy, quản lý nhà nước về văn hóa vừa phức tạp, khó khăn, vừa phải mềm mại, uyển chuyển, tinh tế. Chúng tôi không hề có ý gì khác ngoài thể hiện quan điểm của mình nhân chuyện Cục Nghệ thuật biểu diễn có dự định không tiến hành cấp phép cho các ca khúc trước năm 1975 như trước đây, mà để các địa phương tự chọn. Ca khúc nào “có nội dung xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ cá nhân, hay bôi nhọ tổ chức, đi ngược lại lợi ích quần chúng” sẽ không được biểu diễn. Liệu điều này có thỏa đáng, có phù hợp, có thuận lòng người, có hợp với xu thế phát triển của văn hóa đương đại trên thế giới? Đối chiếu với việc phân tích các đặc trưng của văn hóa (âm nhạc), phần nào có thể giải đáp.

leftcenterrightdel
Minh họa: MẠNH TIẾN

1. Âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người. Là phương thức biểu đạt tâm hồn một cách tinh tế, nhuần nhị nên âm nhạc luôn được đánh giá cao. Người ta vẫn coi “khi nào ngôn từ bất lực thì âm nhạc lên tiếng”. Từ xa xưa, âm nhạc gắn bó chặt chẽ với thơ nên có khái niệm “thơ ca” là một từ ghép đẳng lập. Trong lời tựa Kinh thi nổi tiếng của phương Đông, cổ nhân cho rằng: “Thơ là do cái chí mình phát ra… Tình động trong lòng mà hiện ra lời nói, nói không đủ phải hát”. Bên phương Tây, nhà thơ nổi tiếng Verlaine cho rằng, trong thơ thì âm nhạc đi trước tất cả. Clayster còn nhấn mạnh âm nhạc là “cội rễ hay công thức đại số của mọi môn nghệ thuật còn lại”. Các cụ ta cũng tinh tế nhận định: “Thơ là sự biểu hiện của nhạc, thanh là sự hỗ trợ của thơ. Tình rung động phát ra thành thanh, người ta có thanh mà sau đó có thơ…” (Từ trong di sản…). Đường biên thể loại giữa thơ và âm nhạc luôn không rõ ràng, chúng luôn xâm lấn, ở bên nhau và ở trong nhau để cùng tỏa sáng. Viện Hàn lâm Thụy Điển tôn vinh nhạc sĩ Bob Dylan là người đoạt Giải Nobel Văn học 2016, vì “đã tạo ra những cách diễn đạt thơ ca mới trong truyền thống âm nhạc Mỹ”, cũng là sự khẳng định tính anh em của thơ và nhạc.

Theo thần thoại Hy Lạp-La Mã, thần âm nhạc có tên là Apollo còn kiêm thêm cả nhiệm vụ tiên tri và chữa bệnh. Như vậy, thời đó đã quan niệm âm nhạc có chức năng dự báo, nghe nhạc mà biết trước những gì sẽ đến, và chức năng cứu người. Illiad vĩ đại của Homer miêu tả các chiến binh thời La Mã để có thêm tinh thần chiến đấu, trước khi ra trận thường được nghe các khúc nhạc mạnh mẽ mang tính chất khích lệ. Khi giao tranh, người ta thường đánh trống, khua chiêng để cổ vũ các chiến binh. Chàng Ulysses trong “Odysseus”  khi trở về qua vùng biển Xiren nguy hiểm phải nghĩ cách đút sáp ong vào tai các thủy thủ và bảo mọi người trói mình vào cột buồm. Nhờ thế mà không ai nghe được nên thoát khỏi sự quyến rũ mê hoặc từ những tiếng hát du dương của các tiên nữ muốn chèo kéo các bậc nam nhi ở lại… Là người Việt, ai cũng biết đến tiếng đàn Thạch Sanh trong truyện cổ tích. Tiếng đàn ấy như biết nói, biết giãi bày, biết phân trần. Tiếng đàn đã minh oan cho chàng: Đàn kêu tích tịch tình tang/ Ai đem công chúa dưới hang trở về… Đặc biệt, tiếng đàn còn làm cho quan quân 18 nước chư hầu lăn ra ngủ mà quên đi ý định gây chiến bằng gươm đao… Đó chẳng phải là một khát vọng về sức mạnh chinh phục của nghệ thuật âm nhạc sao? Dân ta từng phải đối phó, phải đổ nhiều máu để đuổi nhiều kẻ thù xâm lược nên mới có một ước mơ thật đẹp là sở hữu một thứ nghệ thuật có thể làm tiêu tan ý chí xâm lăng của ngoại bang. Trong thế giới truyện cổ tích của nhân loại đã có nhiều hình tượng cây đàn thần nhưng chưa có nước nào có cây đàn ru giặc ngủ như cây đàn Thạch Sanh. Những chi tiết như thế chẳng phải đã nói lên tính cách dân tộc này trọng tình nghĩa, yêu người và yêu hòa bình hơn tất cả sao!?

Người Việt rất quý và coi trọng sức mạnh chinh phục của âm nhạc, thứ âm nhạc đích thực nâng đỡ tâm hồn con người cất cánh bay vào bầu trời chân, thiện, mỹ. Thế nên, chúng ta ủng hộ chủ trương bỏ việc cấp phép các ca khúc trước năm 1975. Nhưng chắc ai cũng muốn đó phải là những ca khúc hay, có tác dụng giáo dục nhân cách và ý nghĩa về mặt thẩm mỹ. Bởi ai cũng biết, trước năm 1975, chịu sự quy định của thời thế mà có rất nhiều ca khúc không phù hợp với tâm hồn, tính cách Việt, không phù hợp với cuộc sống hôm nay… Nhưng có nhiều ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành cổ điển, sống mãi trong lòng người hâm mộ. Đó là những di sản văn hóa tinh thần quý báu mà mọi người có quyền được thưởng thức, có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn.

2. Văn hóa nói chung, âm nhạc nói riêng có tính phi thời gian, phi không gian, tức không có biên giới vật lý và không chịu sự chi phối của thời gian. Nằm trong quy luật tiếp biến, sự ảnh hưởng trong văn hóa từ nước này đến nước khác, trường phái này đến trường phái kia, tác giả này đến tác giả nọ… như một điều tất yếu. Chúng ta thấy âm nhạc Hàn Quốc ảnh hưởng mạnh từ âm nhạc phương Tây và bây giờ đang ảnh hưởng rõ tới âm nhạc Việt ra sao. Nhìn vào quá khứ thì văn hào Shakespeare mượn cốt truyện Hamlet từ nước Đan Mạch, thi hào Nguyễn Du mượn cốt Truyện Kiều từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên nước Tàu. Nhưng hai tác giả lớn này đã tái tạo các chi tiết, sự kiện thành câu chuyện, nhân vật, tình tiết, ngôn ngữ… của nước mình. Cô Kiều của cụ Nguyễn Du tiêu biểu cho người con gái hiếu nghĩa đậm bản sắc văn hóa Việt. Sự ảnh hưởng này có xu hướng kết tinh văn hóa để tạo nên hình tượng mang tính nhân loại phổ quát. Những hình tượng như Kiều, Hamlet… nhờ kết tinh nhiều yếu tố văn hóa bản địa và ngoại lai, nhờ một nghệ thuật sáng tạo tuyệt vời nên trở thành mẫu số chung của nhân loại về tình yêu thương, ca ngợi lý trí con người, về sự hy sinh, về tình yêu tự do… Cho nên, một tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao mang tầm nhân loại luôn là của chung mọi dân tộc. Nó luôn mới mẻ giá trị cả về hình thức và nội dung, trở thành tấm gương soi chung cho bất cứ ai, ở bất cứ đâu. Người Việt Nam cần học thần thoại Hy Lạp, La Mã, học sử thi Ấn Độ, đọc tác phẩm kinh điển của Trung Hoa, Đức, Tây Ban Nha, Anh… và ngược lại. Đó là quá trình tiếp thu tinh hoa văn hóa để làm giàu có văn hóa dân tộc mình, là cách để hòa chung với nhân loại, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa hôm nay…

Văn hóa không có biên giới nên hôm nay nếu chúng ta đẩy trách nhiệm về cho các địa phương tự chọn bài hát tức là khuôn văn hóa vào một “biên giới”. Như vậy là tách văn hóa ra khỏi môi trường giao lưu tiếp biến. Hơn nữa, văn hóa là tài sản chung của dân tộc, của quốc gia, mọi công dân có quyền hưởng thụ và trách nhiệm gìn giữ. Làm thế cũng tức là tách văn hóa ra khỏi con người.

Cũng nằm trong quy luật giao lưu, không thể chỉ đài phát thanh, truyền hình tỉnh nào dành riêng cho tỉnh ấy mà còn cho cả nước, thậm chí thế giới. Nếu tỉnh này cấm bài này nhưng tỉnh kia lại không thì người nghe/xem vẫn có thể mở đài tỉnh nào có bài họ thích. Thế là việc cấm thành ra vô tác dụng, chưa nói đến chuyện gây phiền phức, ức chế cho khán/thính giả.

3. Xét về bản chất hình tượng thì sáng tạo tác phẩm là sáng tạo ra một “cuộc sống thứ hai”. Thoát thai từ cuộc sống thực nhưng nó chỉ là mô hình chứ không phải cuộc sống thực. Có bao nhiêu tác phẩm là có bấy nhiêu mô hình, có cái giống, có cái khác, lại có cái xa lạ, thậm chí ngược với đời sống thực. Có mô hình bị ngợi ca vô lối, có mô hình bị hiểu sai, có cái bị lợi dụng… Vì lẽ này mà tiếp nhận văn học, nghệ thuật luôn là vấn đề phức tạp. Có bao nhiêu người tiếp nhận lại sẽ tạo ra bấy nhiêu mô hình cho riêng họ, tùy thuộc vào vốn sống, vốn văn hóa, sự trải nghiệm… Cùng trong một tiếng tơ đồng/ Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm, cùng một tác phẩm đỉnh cao nhưng ngay với những tài năng nghệ thuật, sự đánh giá cũng rất khác nhau. Cho nên nếu “giao quyền” thẩm định ca khúc về các địa phương thì vô tình tạo cho tính cách “địa phương chủ nghĩa” nảy nở. Giả sử có tỉnh chọn bài “nhạy cảm”, khi bị phê bình, người ta sẽ “lập luận” là “căn cứ vào “bản sắc” địa phương, tỉnh tôi cần có bài như thế…!!!”.

4. Như vậy, nếu Cục Nghệ thuật biểu diễn có sự “giao quyền” này thì đó là việc “đá quả bóng trách nhiệm” cho người khác. Vì đây đích thực là công việc quản lý của cục vốn có đủ uy tín, trách nhiệm và nghĩa vụ thành lập các hội đồng thẩm định ca khúc trong toàn quốc. Không chỉ với ca khúc trước năm 1975 mà còn cả những “ca khúc” dở hôm nay. Ngoài tính tiêu cực trong bài hát mà nhiều người dễ nhận thấy, còn nhiều chuyện khó, phức tạp hơn như chỉ có chuyên gia mới phát hiện ra việc “đạo” lời, “đạo” nhạc từ nước ngoài… Chỉ có cục đứng ra thẩm định mới vừa bảo đảm tính thống nhất quản lý về mặt Nhà nước, vừa bảo đảm tính tương đối về chất lượng các ca khúc được chọn. Còn đưa về địa phương, vừa tốn kém (mỗi tỉnh một hội đồng thẩm định), vừa không thống nhất, thậm chí mâu thuẫn, trái ngược nhau.

PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ