Chúng tôi hay nói với nhau trong lúc đi tác nghiệp: Đây là cơ hội quý giá mà thế hệ 8X, 9X may mắn được tham gia, để được lắng nghe, được chia sẻ công tâm từ cả hai phía. Họ-những cựu binh Mỹ đều có chung một tâm niệm, có thể đây là chuyến đi cuối cùng. Tại sao ư, vì họ đều ở ngưỡng ngoài 70 tuổi, sức khỏe rất kém. Phần nhiều trong số họ đều từng trải qua những sang chấn tâm lý khi bước ra khỏi cuộc chiến thảm khốc tại Việt Nam, có nhiều người đã từng mất hàng chục năm trong các trại cai nghiện hoặc tại các bệnh viện điều trị về bệnh tâm thần. Khi sức khỏe còn cho phép, họ cố gắng tham gia để  đối mặt và nhìn nhận lại một phần quá khứ mà lâu nay họ luôn bị ám ảnh, dằn vặt.

Đoàn làm phim ghi hình một gia đình CCB Mỹ.

Vậy nên, chúng tôi cảm nhận rất rõ những tâm sự, chia sẻ của họ đều chân thành, rất thật và đong đầy nỗi niềm. “Xin lỗi, xin lỗi vì những gì mà chúng tôi đã gây ra trên đất nước các bạn. Xin lỗi vì chúng tôi đã không đủ dũng khí, đủ can đảm để thừa nhận điều đó sớm hơn. Và chúng tôi mong những nỗi đau mà chiến tranh gây ra trong quá khứ, sẽ là bài học xương máu sẽ không tái diễn ở bất kỳ quốc gia nào trong hiện tại. Thế hệ con em chúng ta xứng đáng được sống trong một thế giới hòa bình” luôn là câu mở đầu trong tất cả các cuộc phỏng vấn. Họ không lảng tránh bất kỳ câu hỏi nào, thậm chí khá thẳng thắn khi trả lời về các vấn đề liên quan đến hội chứng chiến tranh, về sự ám ảnh hay hận thù… Van Hoff-cựu lính thủy quân lục chiến  tâm sự: “Bước ra khỏi cuộc chiến, tôi cũng như nhiều cựu binh khác đã sống một phần đời bị mắc kẹt. Bị nhân dân nước bạn nguyền rủa, bị dự luận thế giới lên án và bị chính những người dân đất nước tôi quay lưng, ghét bỏ. Họ gọi chúng tôi là những con quỷ giết người”. Dan Shea-cựu lính không quân đã không cầm được nước mắt khi tới thăm các gia đình là nạn nhân chất độc ca cam: “Bản thân tôi cũng bị nhiễm dioxin và tôi có một người con trai bị thiểu năng trí tuệ. Chúa đã trừng phạt về những gì tôi đã gây ra. Tôi quay lại đây giống như một hành trình chuộc lỗi”.

Rất nhiều đoàn thông tấn, báo chí biết tin đã đi theo chuyến hành trình của VFP, nhưng phía VFP lại đặc biệt dành tình cảm và sự thiện chí với đoàn làm phim của Điện ảnh Quân đội nhân dân. Thật ngạc nhiên có những điều mà chúng tôi tưởng đơn giản lại vô cùng ấn tượng với họ. Đó là việc chúng tôi chở một số cựu chiến binh ra các điểm để ghi hình phỏng vấn hoặc nhường những chai nước mang theo khi thấy họ mệt mỏi trước thời tiết nắng nóng miền Trung. Họ tâm sự với người phiên dịch rằng: “Ngay cả trong mơ chúng tôi cũng không thể tưởng tượng có ngày được ngồi trên xe của những người lính Quân đội nhân dân Việt Nam, được uống nước họ đưa với sự thân tình, cởi mở như vậy. Sung sướng và hạnh phúc lắm. Đây chắc chắn là kỷ niệm không thể nào quên”.

Trọng tâm chuyến đi của đoàn VFP là dừng lại ở Mỹ Lai (Quảng Ngãi) và tham gia Lễ tưởng niệm 50 năm sau thảm sát Sơn Mỹ. May mắn thay, chúng tôi được nghe lại trực tiếp tiếng vỹ cầm Mỹ Lai của cựu binh Mike Boehm bên dòng kênh đã từng nhuốm đỏ máu của hàng trăm thường dân bị sát hại trong vụ thảm sát. Đã được gặp gỡ cựu phóng viên chiến trường Ronald Haeberle-chủ nhân của những bức ảnh tố cáo sự dã man, tàn bạo của quân đội Mỹ vào ngày 16-3-1968 tại Sơn Mỹ-Mỹ Lai. Được chứng kiến cuộc gặp gỡ lịch sử của các cựu binh Mỹ với bác Phạm Thành Công-một trong những nhân chứng còn sống sót sau vụ thảm sát. Bác Công đã hỏi một câu mà tất cả những người Mỹ có mặt đều cúi đầu, im lặng: “Cả gia đình tôi đã chết trong vụ thảm sát. Tôi trở thành trẻ mồi côi năm 11 tuổi. Nếu là các ông, các ông có thể lãng quên được không?”. Những lời nói sau đó của bác Công cũng khiến nhiều người trong đoàn làm phim cũng như cựu binh Mỹ suy nghĩ: “Nhưng dù sao, quá khứ đã đến lúc phải khép lại. Chỉ mong các ông hãy góp tiếng nói để dư luận yêu chuộng hòa bình quốc tế đồng lòng trong việc ngăn chặn, không để có một Mỹ Lai thứ hai xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”. Sự im lặng nặng nề kéo dài, thậm chí tôi còn nghe rõ tiếng kim đồng hồ tíc tắc trên tường. Tôi đồ rằng, nước mắt đang chảy ngược vào trong sâu thẳm tâm can những người đang có mặt. Họ đã từng ở hai bên chiến tuyến, nỗi đau muôn hình vạn trạng, sự tổn thương chẳng thể dễ vá lành dù là bên chiến thắng hay bên thua cuộc.

Nhưng như bác Công nói, chúng ta bước ra, đứng vững và chữa trị những tổn thương của chính mình nhanh hơn, kiên cường hơn vì chúng ta chiến đấu vì đất nước, vì chính nghĩa và lý tưởng. Và câu chuyện mà chúng tôi muốn kể sau cùng đó là sự xuất hiện rất đột ngột vào phút cuối ngay tại Nhà tưởng niệm chứng tích Sơn Mỹ của anh Trần Văn Đức, đi cùng cựu phóng viên chiến trường Ronald Haeberle (Ron). Anh lặn lội từ Đức về, cầm trên tay bức hình lịch sử của Ron và khẳng định: “Đó là tôi và em gái Trần Thị Hà. Chúng tôi vẫn còn sống sót sau vụ thảm sát”. Ông Ron cũng bày tỏ mong muốn các cấp chính quyền hãy làm rõ, đối chất với các nhân chứng để trả lại danh tính cho nhân vật. Anh Đức òa khóc khi chỉ vào hình mẹ anh nằm lẫn trong những xác người phơi trên đường: “Mẹ tôi đã bị quân địch bắn khi đi men theo đường làng tìm xác hai anh em tôi. Bà nghĩ là chúng tôi đã chết. Nhưng tôi vẫn đứng đây, vẫn luôn yêu và nhớ đến mẹ mình. Tôi chẳng được lợi ích gì trong việc khẳng định mình là người trong bức hình. Nhưng lịch sử cần chính xác”.

Câu chuyện của anh Đức cũng như rất, rất nhiều câu chuyện khác vẫn còn bỏ ngỏ khi chiến tranh kết thúc. Bởi một lẽ rất đơn giản, đó chính là sự tàn khốc tận cùng của chiến tranh. Một cuộc chiến nhưng triệu nỗi đau. Và chẳng nỗi đau nào giống nhau. Đó cũng là lý do mà chúng tôi-những thế hệ làm phim của Điện ảnh Quân đội nhân dân đã và đang tiếp tục cuộc hành trình của mình. Hành trình chép sử bằng hình.

Thiếu tá, Đạo diễn ĐẶNG THÁI HUYỀN