Chúng tôi có chủ đích về thăm Mô Rai, một xã nằm ở vành đai biên giới thuộc huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum vào một chiều mùa khô đốm nắng da trời.

Cách trung tâm huyện Sa Thầy gần 60km, Mô Rai là căn cứ địa cách mạng những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ít ai biết được rằng, miền đất này từng được mệnh danh là chốn “thâm sơn cùng cốc”. Đất trọc, người lại càng thưa, rồi tàn tích chiến tranh, khắc nghiệt của thời tiết, nghèo đói bủa vây... Nhưng đó là câu chuyện của hơn 20 năm về trước, mà nếu chưa từng gắn bó máu thịt với nơi này thì chẳng thể hình dung nổi, vì Mô Rai bây giờ đổi thay nhiều quá.

 Công nhân Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 78 khai thác mủ cao su.

Cán bộ, người lao động Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 78, Binh đoàn 15 đón chúng tôi bằng cái bắt tay đượm tình thân ái. Hỏi thăm các anh, thấy ai cũng rạng rỡ. Chiều biên cương thường có nỗi niềm riêng. Khi bóng hoàng hôn đẫm lên màu áo lính, chúng tôi theo chân các anh xuống làng Le thăm ông A Dói, người uy tín trong cộng đồng Rơ Măm-dân tộc có số dân dưới 1.000 người. Ông kể lại chuyện xưa như thể tất cả những ngày khốn khó của Mô Rai đang hiện về trong mắt: “Hồi ấy khổ lắm! Mà cũng thành tập tục rồi. Cứ một, hai năm lại đốt rẫy, rời đi chỗ khác. Mãi sau này, bà con mới chịu định canh, định cư. Nhờ “bộ đội bảy tám” vận động cả đấy!”.

Đoàn KT-QP 78 chính là đơn vị quân đội thực hiện dự án xây dựng Mô Rai thành khu KT-QP phát triển toàn diện và bền vững. Họ là những người không tiếc mồ hôi, nước mắt, thậm chí là dùng xương máu của mình để kiến tạo lại mảnh đất đầy gian khó trở thành “vành đai xanh” cho vùng biên giới Bắc Tây Nguyên của ngày hôm nay.

Sẵn dịp ôn lại chuyện cũ, Đại úy QNCN Vũ Hùng Ngọc, Trợ lý dân vận Đoàn KT-QP 78 thủ thỉ: “Tôi rời Nghệ An lên đây theo đợt tuyển quân của đơn vị những ngày đầu thành lập, ngót mà đã 20 năm gắn bó với Mô Rai. Ngày ấy đường sá cách trở, di chuyển khó khăn, 6 tháng mưa ăn gạo trong kho, chờ “tập kết” lương thực đến mỏi mòn. Chỉ có cá khô và bí xanh tự trồng. Giữ được con người ở lại với Mô Rai thời kỳ đó khó lắm. Rồi gắn kết với bà con trong vùng nữa. Đó là một hành trình dài. Anh em chúng tôi đã chia nhau xuống làng, hướng dẫn bà con cách ăn ở, sinh hoạt, nuôi dạy con cái, chăm sóc sức khỏe, từ những việc nhỏ nhặt nhất. Ngày trước, họ còn hủ tục nhiều nên đói kém, lạc hậu chồng chất lên nhau. Bây giờ hầu như không còn nữa”...

Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 78 tổ chức “Ngày hội bánh chưng xanh” ở làng Rẽ (xã Mô Rai). Ảnh: THANH QUÝ

Hỏi thêm mới biết, hơn 20 năm qua, trên cơ sở lấy cây công nghiệp (đặc biệt là cây cao su) làm điểm tựa về phát triển kinh tế, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, công nhân, người lao động của Đoàn KT-QP 78 đã hợp sức chung lòng, quyết tâm thay đổi diện mạo của Mô Rai từng ngày. Không thể kể hết những nỗ lực vượt bậc của họ nhưng đáng ghi nhận nhất có lẽ là xây dựng được một cộng đồng gắn kết, tiến bộ và phát triển trên chính miền phên giậu của Tổ quốc. Tiếng nói của lực lượng vũ trang một lần nữa đã góp phần thay đổi tư tưởng, nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây theo hướng tích cực. Các anh khuyên bà con giữ đất, giữ rừng để trồng trọt, chăn nuôi. Qua thời gian, bà con dần có vườn cây công nghiệp xanh tốt, được hướng dẫn cách khai thác và bao tiêu cả đầu ra nên phấn khởi vô cùng. Các anh còn trăn trở, làm sao để bà con hiểu “tấc đất là tấc vàng” và từ đó bám nương, bám rẫy; làm sao để Mô Rai có điện, đường, trường, trạm... để xây dựng nông thôn mới, đời sống văn hóa mới. 21 năm trưởng thành của Đoàn KT-QP 78 cũng là 21 năm khởi sắc của vùng đất Mô Rai. Sự gắn bó keo sơn ấy thực sự là tình quân dân “cá-nước”...

Đêm Mô Rai, tôi ngủ không sâu giấc. Chẳng phải vì Mô Rai lạ lẫm mà bởi lẽ cái cảm giác muốn thức dậy vào lúc 0 giờ làm tôi cứ chập chờn mãi. Đêm ở biên giới sâu hun hút nhưng không lạnh lẽo. Chúng tôi băng rừng cao su vào Đội sản xuất số 5 (thôn Ia Rên). Đội trưởng Lê Việt Hán pha ấm chè xanh mời khách giữa hồi kẻng báo thức anh chị em công nhân đến giờ ra lô cao su cạo mủ. Anh cười thật hiền khi chúng tôi hỏi công việc có vất vả quá không: “Quen rồi cô ạ. Giờ này ở phố, chắc mọi người đang sâu giấc nhỉ, còn chúng tôi bắt đầu ra vườn. Đặc thù công việc thế mà. Các cô giáo ở lớp mầm non bên kia còn vất vả hơn nhiều”. Ấy là anh đang muốn nhắc đến lớp mầm non lúc 0 giờ của đội, ở đó các cô giáo chờ đón trẻ từ các gia đình công nhân mang đến gửi. Giờ giấc tréo ngoe là thế nhưng chẳng ai than phiền. Cạn chén chè xanh, chúng tôi theo chân các anh dò dẫm ra lô. Trăng ở rừng mảnh quá, phải cậy nhờ chiếc đèn pin soi lối. Nữ công nhân Bùi Thị Huyên, mới 36 tuổi nhưng đã có 16 năm gắn bó với công việc cạo mủ cao su ở Đoàn KT-QP 78. Chúng tôi cứ trầm trồ nhìn bàn tay chị khéo léo đưa một đường cạo thật mềm trên vỏ cây, nghe giọng xứ Bắc thủ thỉ giữa đêm mới thân thương làm sao: “Mô Rai giờ là quê hương thứ hai của tôi. Tôi lập gia đình ở đây và xác định gắn bó lâu dài với Đoàn KT-QP 78. Nhờ các anh luôn động viên, giúp đỡ mà vợ chồng tôi có công việc ổn định, kinh tế mỗi ngày một khá lên. Các con tôi nhờ đó cũng được chăm lo học hành. Không gì vui hơn nữa”.

Khác với vẻ mạnh dạn của chị Huyên, chàng thanh niên tên Măng đến từ Thanh Hóa rụt rè hơn vì là “lính mới”. Chiếc mũ đỏ và áo thun xanh dưới ánh đèn pin càng làm cho anh nổi bật giữa rừng. Để ý thấy đường cạo khá thành thạo dù mới đến Mô Rai đầu quân cho Đoàn KT-QP 78 được hơn 6 tháng, Măng thật thà kể: “Cạo mủ cao su không khó nhưng để thành thục về kỹ năng thì phải mất cả tháng trời học hỏi rồi ra lô thực hành. Ban đầu sản lượng thấp nhưng tôi không nản vì được các anh trong đội sản xuất luôn nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ. Công việc cũng không quá vất vả. Chỉ mong có đủ sức khỏe để gắn bó lâu dài”. Vui sao khi đến thăm ai, ở đâu, chúng tôi cũng đều được nghe một lời tâm sự: “Muốn gắn bó lâu dài”. Lời tạm biệt Đội sản xuất số 5 được cất lên khi “mủ của rừng” đã lưng lưng bát...

Cứ ngỡ vùng biên hẻo lánh lắm, nhưng không! Đường sá Mô Rai bây giờ hanh thông, nhà cửa san sát nhau. Tất cả đều ánh lên không khí của một cuộc sống ấm no, bình yên. Trụ sở của Đoàn KT-QP 78 tại Mô Rai thật vững chãi. Khuôn viên được quét tước, dọn dẹp sạch sẽ nên trông rất thích mắt. Chúng tôi không bất ngờ bởi như một lẽ tự nhiên, nơi nào có bộ đội mà lại không có nền nếp, quy củ cơ chứ! Một số cán bộ xuống làng thật sớm. Các anh bảo rằng, sáng nay có buổi gặp gỡ, trò chuyện với bà con làng Le, nơi người Rơ Măm sinh sống để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bà con, những điều mà họ ngại bày tỏ trong các buổi sinh hoạt đội sản xuất. Giờ thì chúng tôi đã hiểu vì sao “bộ đội bảy tám” lại được nhân dân Mô Rai yêu mến nhiều đến như vậy. Được tham dự một buổi sinh hoạt tại làng Le mới thấy hệ thống chính trị cơ sở ở vùng biên được củng cố vững chắc như thế nào. Thông qua hoạt động của các tổ chức trong từng thôn, làng, Đoàn KT-QP 78 đã đẩy mạnh tuyên truyền bà con bỏ dần những hủ tục như tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; vận động thanh niên tham gia vào các đội sản xuất để cải thiện chất lượng đời sống, tránh sa vào các tệ nạn xã hội không đáng có.

Thời gian ngắn ngủi nhưng vừa kịp để chúng tôi được gặp gỡ một nhân vật khá đặc biệt trước khi rời Mô Rai. Đó là anh A Toa, đội trưởng đội cồng chiêng làng Le. Anh cởi mở và tự hào kể về cái không khí của lễ “Bỏ mả”, “Cúng kho” hay “Mừng lúa mới” có tiếng cồng chiêng vang giữa đại ngàn, có điệu múa xoang bập bùng ánh lửa. “Bộ đội bảy tám” được lòng dân lắm. Thấy bà con mình ai khó khăn là họ đưa công nhân ra giúp ngay. Rồi kết nghĩa thành anh em, cùng nhau làm giàu chính đáng. Sự giao thoa văn hóa cũng khiến trình độ dân trí của bà con dần được nâng cao. Nhà nào có con đến tuổi cũng cho đi học”, nói đến đấy rồi A Toa ngậm ngùi: “Nếu không có “bộ đội bảy tám” lên với Mô Rai thì chẳng biết đến bao giờ vùng đất này mới tươi sáng như hôm nay. Biết ơn “bộ đội bảy tám” nhiều lắm”. Đấy, đâu cần phải nói quá nhiều về những thành tích mà Đoàn KT-QP 78 đã đạt được, chỉ cần về Mô Rai để lắng nghe những tâm tình...

Lời tạm biệt nào cũng khó nói ra. Sẽ còn hạnh ngộ với Mô Rai vào một ngày đẹp trời nào đó. Xe lăn bánh chở đoàn phóng viên chúng tôi về phố. Niềm thương mến xin dành trọn cho Mô Rai, cho bà con vùng biên và các cán bộ, chiến sĩ, người lao động của Đoàn KT-QP 78. Mong các anh “chân cứng đá mềm” để tiếp thêm sức mạnh cho công cuộc dựng xây quê hương, đất nước; để ươm mãi những mầm xanh biên giới. Ngược rừng Chư Mom Ray quay về, chúng tôi ấm lòng nhìn lên bóng cây kơ-nia hai bên đường vẫn còn thắm những phiến lá hình trái xoan đượm giữa trời xanh mà nghĩ ngợi. Thật đúng là: “Có sức người, sỏi đá cùng thành cơm”...

Ghi chép của LỮ HỒNG