Năm 1951, khi tôi chào đời ở Chiến khu Việt Bắc thì cha tôi đã phụ trách tuyên huấn Quân đội. Đến năm 1955, hòa bình lập lại, gia đình về Hà Nội, tôi bắt đầu hiểu được đôi chút công việc của ông. Trong những năm ông làm việc ở Tổng cục Chính trị, nhất là khi mẹ tôi đi học trường Đảng (1961-1964), ông chăm sóc chúng tôi. Đều đặn hằng tuần, ông giục các con, cả cậu con út khi đó mới 7-8 tuổi, viết thư cho mẹ và đi gửi ở bưu điện Bờ Hồ, rồi đi mua sách, ăn kem.

Năm 1965, tôi và em trai vào học lớp 5 và lớp 6 trường thiếu sinh quân. Do quá hiếu động, em tôi vi phạm kỷ luật. Từ mặt trận, cha đã gửi nhiều thư cho em, ông viết: “Tự vượt qua chính mình là điều quyết định cho tiến bộ của con”. Lời dạy ấy đã biến cậu bé ngỗ nghịch thành một Thiếu tướng, Tiến sĩ khoa học.

Ở trường, tôi học giỏi và hiền nên được bầu là tiểu đội trưởng. Một lần, theo trách nhiệm, tôi phê bình thẳng bạn thân. Hôm sau, cả đám bạn quay lưng, nói tôi “đạo đức giả, có chức thì trở mặt”. Ở tuổi mới lớn, những lời ấy làm tôi suy sụp. Khi kể hết chuyện này với cha, ông nhẹ nhàng dặn: “Cứ làm điều con tin là đúng. Rồi bạn bè sẽ hiểu. Dù ai đối xử với con thế nào, con vẫn cần tử tế. Làm gì cũng phải đúng người, đúng lúc, đúng cách, đúng mức”. Một hôm, biết cậu bạn đang ốm, tôi tự nhóm bếp, bẻ củi nấu nồi cháo mang sang. Đến giờ, tôi vẫn nhớ tiếng củi nổ và giọng cha vang bên tai.

leftcenterrightdel

Đồng chí Lê Quang Đạo (đeo kính) khi ở chiến trường. Ảnh tư liệu

Một đêm hè năm 1971, cha gọi tôi ra ban công căn nhà 28D Điện Biên Phủ. Ông từ tốn nói: “Cục Cán bộ vừa báo bố. Do kết quả năm thứ nhất rất xuất sắc, con được chọn đi học ngành điều khiển ở Cộng hòa dân chủ Đức. Suất học rất hiếm, Bộ Đại học ưu tiên dành cho Quân đội”. Ông ngừng lại, rồi nói tiếp, vẻ rất băn khoăn: “Mấy năm con ốm, phải bỏ phổ thông, đi học bổ túc. Nhờ kiên trì tự học, thi đỗ đại học. Đi Đức thì tốt, lại là ngành mới. Nhưng bố rất lo sức khỏe con. Sang bên đó, gặp lạnh lỡ bệnh cũ tái phát, con ốm phải bỏ học về nhà. Như vậy, con dang dở, Quân đội mất suất học hiếm. Nếu học tiếp ở nhà, sau này thì đi tiến sĩ ở nước ngoài. Con nghĩ xem nên thế nào?”.

Đến hôm nay, trong tôi vẫn là tối hè hôm đó. Trời đầy ắp ve kêu, hoa phượng đỏ lửa dưới sân, hai cha con đứng trên ban công. Tôi đã nghe lời cha và làm được như ông nói.

Mỗi khi cậu em út tôi lên lớp trên hay vào bộ đội, cha tôi đều dặn dò thật lâu, như làm công tác tư tưởng cho chiến sĩ. Đến nay, sau nhiều năm tháng vắng ông, chúng tôi nhận thấy rõ, tuy chiều và rất quan tâm đến các con nhưng ông là người nghiêm khắc, nhất là trong học hành và tiến bộ của chúng tôi.

Năm 1999, sau ngày cha tôi ra đi, mẹ tôi, nhà văn Nguyệt Tú đã nói với các con việc ra sách về cha. Tôi được giao biên tập cuốn “Lê Quang Đạo (1921-1999)”. Khi làm tư liệu, tôi nhớ nhất câu chuyện với Thượng tướng Song Hào, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ban đầu, tôi gặp và muốn ông viết về cha tôi, ông không nhận lời. Lý do là trước đó, có người đề nghị ông viết về một vài lãnh đạo cao của Đảng nhưng ông đã từ chối. Tôi tâm sự với ông: "Bác là cấp trên và đã làm việc lâu nhất, hơn 20 năm với bố cháu, hai gia đình lại là hàng xóm chung sân hàng chục năm...". Nghe xong, ông nói: "Vậy bác sẽ kể để cháu viết". Ông ngồi với tôi vài buổi, mỗi lần nhiều giờ. Trong lời kể của ông có đoạn: “Tính bố Đạo tình cảm, giản dị và chan hòa. Khi làm tuyên truyền thì không bị hố. Khi đi chiến đấu rất sắc sảo, rất ý chí, dũng cảm. Với bố Đạo, khi nhiệm vụ yêu cầu thì sẵn sàng làm, dù có khó khăn thế nào cũng hết lòng thực hiện đến cùng với tâm hồn trong sáng. Bố cháu có cuộc đời rất đẹp”.

Khi làm cuốn sách, tôi được tiếp xúc với các nhân chứng, nghe nhiều câu chuyện, nhận nhiều bài viết về cha, khi ông làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn và Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị rồi Chính ủy các chiến dịch lớn.

GS Trần Văn Giàu viết là năm 1951 ở Đèo Khế ông gặp và tâm sự với cha tôi: “Mình muốn chuyển từ Quân đội sang giáo dục nhưng ngại mọi người nghĩ là nhát". Anh Đạo nói: “Cậu cứ liệu nơi nào mình phục vụ được nhiều nhất cho cách mạng và kháng chiến thì đi vào đó”. Dừng một lát, anh nói một câu khá mới: “Giáo dục, đào tạo cũng là một mặt trận...”. Lúc đó, tôi chưa hề nghĩ “giáo dục cũng là một mặt trận”... Sau này, mỗi khi có thành tích đáng kể với khoa học giáo dục tôi lại nhớ đến lời khích lệ của anh Đạo năm xưa”.

Tôi cũng được biết một câu chuyện khá thú vị. Thời đánh Pháp, NSƯT Thùy Chi là diễn viên Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị. Một hôm, nghe cô bức xúc về việc bị lãnh đạo Đoàn “ghép đôi” với người cô không yêu, cha tôi cười thông cảm: “Thế cô lấy chồng cho cô hay cho quần chúng? Bây giờ còn dễ giải quyết chứ sau này tổ chức lễ cưới xong thì hơi phiền đấy. Cô cứ cân nhắc kỹ rồi trả lời, không việc gì mà ngại cả”. Câu nói này đã giúp cô giải thoát áp lực. Sau này cô lấy người mình yêu, gia đình hạnh phúc, con cháu đông vui.

Chiến dịch Điện Biên Phủ, cha tôi là Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ chỉ huy chiến dịch kiêm Chính ủy Đại đoàn 308. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng kể lại: “Giữa hai đợt tiến công của chiến dịch, khí thế bộ đội ta sa sút nhiều. Sau đợt chỉnh huấn do anh Đạo phụ trách, tinh thần cán bộ, chiến sĩ tăng vượt lên. Lần đó, anh Đạo đã giúp tôi rất nhiều”.

Ngày 5-8-1964, máy bay Mỹ ào ạt đánh phá cửa sông Gianh, đúng lúc cha đi công tác tại đây. Suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, câu nói của ông lúc đó: “Theo dõi diễn biến, nhanh chóng đưa tin chiến sự” vẫn vọng bên tai Trung tướng Hồng Cư, người đi cùng cha, như mệnh lệnh chiến đấu của tuyên huấn Quân đội.

Năm 1968, cha tôi là Chính ủy Bộ tư lệnh Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh. Địa điểm Bộ tư lệnh bị B-52 đánh bom cấp tập. Ông và bảo vệ, bác sĩ lạc giữa bãi bom. Hai bảo vệ nằm đè lên che cho ông, bị đá giập thương khá nặng. Không có gì ăn, cả nhóm chia đều nắm gạo rang sót lại, mỗi người dăm chục hạt. Ông lấy nửa phần của mình, sẻ cho cậu đang sốt rét. Trước đó, dứt đợt bom, ai nấy mặt hốc hác, đầy khói bom và bụi, buồn và lo. Bỗng tiếng cười bật lên khi nghe ông kể chuyện “Bạch cụ! Đậu phụ chùa cắn đậu phụ nhà”.

Thượng tướng Trần Văn Quang giữ ấn tượng về cha tôi: “Gặp anh trong mọi hoàn cảnh, lúc nào cũng thấy cười, vẻ giản dị, lạc quan và đoàn kết trên dưới. Anh nổi tiếng là người gương mẫu mà lại cởi mở, dễ gần”.

Vào năm 1999, 6 tháng trước ngày cha tôi đi xa, ông viết về Bác Hồ đã dạy ông trong Chiến dịch Biên giới 1950: “Bác nói với tôi: “Công tác của một cán bộ chính trị trong Quân đội không những phải làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng... Chú phải lo chỗ ăn, chỗ ở, chỗ đi vệ sinh của cán bộ, chiến sĩ”. Nghệ sĩ Mộ La kể với mẹ tôi về chuyện Bác Hồ nói với cô: “Ai có khúc mắc cứ gặp chú Đạo sẽ giải tỏa được hết”.

Qua các bài viết và tài liệu ông để lại (đặc biệt là cuốn nhật ký của ông trong Chiến dịch Quảng Trị 1972), tôi hiểu được: Trong công tác, với tổ chức, với cấp trên và cấp dưới, ông luôn đúng mực. Tính ông tình cảm, vui, hóm hỉnh rất duyên và chan hòa, là nét đặc sắc của người Bắc Ninh. Ông luôn biết lắng nghe mọi người và cấp dưới. Tính cách này làm nhiều người nghĩ ông “dĩ hòa vi quý”. Trước khi nhà văn Hữu Mai viết về cha tôi và nhiều đồng nghiệp khác đều nhận định sẽ khó viết vì có vẻ cha tôi “tròn như bi”. Đến khi tìm hiểu tài liệu và gặp nhân chứng, nhà văn “tá hỏa” vì nhận ra một chân dung khác hẳn. Thực tế, cha tôi rất giữ nguyên tắc, bên trong hội nghị phát biểu quyết liệt bảo vệ chính kiến đến cùng nhưng ra bên ngoài thì lặng thinh.

Cha tôi thấu hiểu tâm lý mọi người, rất khéo về đối nhân xử thế. Nhưng trên hết, ông trong sáng, nhận rõ đúng, sai và không bao giờ đánh mất sự trung thực. Đó là điều quý báu nhất trong số quá nhiều đức tính tốt đẹp của cha mà chúng tôi cần phải học theo ông, một con người nói chung và một cán bộ tuyên huấn nói riêng thật là mẫu mực.

Đồng chí Lê Quang Đạo (tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyện), sinh ngày 8-8-1921 tại xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

 Từ năm 1938, đồng chí tham gia cách mạng tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng... và giữ nhiều chức vụ quan trọng. Từ năm 1950, đồng chí được giao phụ trách công tác tuyên huấn Chiến dịch Biên giới, là Cục trưởng đầu tiên của Cục Tuyên huấn; Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ chỉ huy chiến dịch trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, kiêm Chính ủy Đại đoàn 308; Phó trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến, Ủy viên Ban Liên hiệp đình chiến Trung ương. Từ năm 1955 đến 1976, đồng chí là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, trực tiếp chỉ đạo công tác tuyên huấn, địch vận đối ngoại của Quân đội, Ủy viên Thường trực Quân ủy Trung ương (1965-1976). Năm 1961, đồng chí kiêm chức Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương. Đồng chí thụ phong quân hàm Thiếu tướng vào năm 1958. Từ năm 1968 đến 1972, đồng chí là Chính ủy các chiến dịch lớn: Đường 9-Khe Sanh, Đường 9-Nam Lào và Trị Thiên giải phóng Quảng Trị. Năm 1974, đồng chí là Ủy viên Thường trực Quân ủy Trung ương và được thăng quân hàm Trung tướng.

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng. Từ năm 1972, là Ủy viên Trung ương Đảng khóa III, IV, V, VI và được bầu vào Ban Bí thư các khóa IV, V. Từ năm 1987 đến 1992, đồng chí là Chủ tịch Quốc hội, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Đồng chí Lê Quang Đạo mất ngày 24-7-1999.

TS NGUYỄN QUANG THẮNG