Tôi bật dậy khỏi giường và mở điện thoại. Ánh sáng xanh yếu ớt đưa tôi đến cửa lách. Sau một tiếng "tách" khô khốc, cửa mở, tôi bước ra ban công nhỏ hẹp. Gió biển lạnh mang theo vị tanh nồng táp vào mặt ngộp thở. Mấy mươi giây qua nhanh, khi đã quen môi trường, quen với tiếng gió, với mùi biển, tôi hướng mặt ra xa.
Trên mặt biển đen thẫm mênh mông chỉ có vài đốm sáng trắng nhấp nhô. Đó là đèn của những chiếc thuyền đánh cá đang neo mình giữa sóng. Ánh đèn chập chờn, lúc rõ, lúc nhòe, như hòa với nhịp thở của đại dương. Tôi chợt hiểu ra, ở nơi này, dường như con người không ngủ. Cũng phải thôi, mưu sinh của họ là ở trên biển. Mà biển thì bao đời nay vẫn thế, có ngủ đâu.
* *
*
Sáng hôm trước, tôi háo hức rời cảng của đảo Phú Quốc và lên tàu cao tốc ra Thổ Châu cách đó hơn 100km. Gần 3 giờ đồng hồ nghe tiếng máy tàu ù ù không dứt bên tai, át cả tiếng sóng, tiếng gió, cuối cùng tôi cũng thấy một vệt mờ mờ lẫn với màu nước biển xanh thẳm hiện ra dưới nắng.
Thổ Châu đấy! Hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc đây rồi! Trái tim tôi lỗi nhịp...
Tàu vào gần, Thổ Châu hiện ra càng rõ, giống như một con tàu xanh sừng sững trên đại dương. Đó không phải màu xanh thẫm buồn tẻ của đảo giữa biển khơi mà là một màu xanh tươi mới, tràn đầy sức sống. Đó là màu xanh của rừng nguyên sinh ôm lấy hòn đảo như cánh tay người mẹ dịu hiền.
    |
 |
Lễ ra quân huấn luyện năm 2026 của Trung đoàn 152, Quân khu 9. Ảnh: HỮU HÙNG
|
Sau những bước chân nhẹ tênh trên cầu cảng, tôi đến một quán nước trước cửa miếu Thổ Châu. Cô chủ quán niềm nở mời tôi uống nước dừa. Đoán biết tôi là khách phương xa lần đầu đến đảo tiền tiêu, cô hồ hởi giới thiệu vài điểm lịch sử của hòn đảo này. Chất giọng ngọt ngào, nhẹ hơn gió của con gái miền Tây và tận mắt thấy sự hồn nhiên trong cử chỉ, điệu bộ thân thiện ấy, tôi nghĩ đã gặp được một hướng dẫn viên chuyên nghiệp.
Qua lời kể của "hướng dẫn viên" xinh đẹp, tôi biết được năm 1993, chính quyền tỉnh Kiên Giang đưa 17 hộ dân đầu tiên ra đảo, rồi thêm nhiều hộ nữa tới định cư, Thổ Châu mới đông đúc như bây giờ. Từ cô, tôi biết Thổ Châu có tên gọi khác rất thú vị-“đảo chạy gió”. Nguồn gốc của cái tên ấy xuất phát từ chính đặc trưng thời tiết, khí hậu và công cuộc mưu sinh của người dân nơi đây.
Từ tháng 9 âm lịch năm trước đến tháng 4 âm lịch năm sau, gió Bắc thổi ào ạt, được ngư dân gọi là mùa gió chướng. Để tránh gió, các tàu cá di chuyển vào bãi Ngự ở phía Nam đảo neo đậu. Thế là những hộ gia đình mưu sinh bằng nghề biển hoặc làm các dịch vụ phục vụ ngư dân cũng chuyển sang bãi Ngự. Những tháng còn lại, khi gió Nam về ào ạt, tàu và những người lao động về bãi Dong ở phía Bắc neo đậu tiếp tục mưu sinh. Bởi vậy, chẳng biết từ bao giờ, Thổ Châu được gọi vui là “đảo chạy gió”. Khi tôi tới đảo, Tết Nguyên đán Bính Ngọ đang đến gần cũng là đỉnh điểm của mùa gió chướng nên bãi Ngự rất nhộn nhịp.
Rời quán nước, tôi được Trung tá Phạm Quốc Cường, Phó chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 152 đưa đi thăm đảo. Xe chở chúng tôi nhanh chóng rời xa khu dân cư và rồ ga leo lên con đường bê tông chạy dọc ven biển. Rừng hiện ra với cây xanh cao vút và cây leo chằng chịt phía dưới. Càng vào sâu, tôi càng cảm nhận rõ sức hút lạ kỳ của nơi này. Trung tá Phạm Quốc Cường nói với tôi rằng, Thổ Châu rất có tiềm năng du lịch vì vừa có rừng nguyên sinh vừa có các bãi tắm cảnh sắc hoang sơ với gần 100 loài san hô rực rỡ. Thổ Châu còn có lịch sử khá đặc biệt. Tại đảo có nơi thờ hơn 500 đồng bào bị quân Pol Pot sát hại năm xưa.
Đi trên con đường bê tông xuyên đảo rợp bóng cây, tôi bắt gặp những tấm áp phích viết dòng chữ đỏ rực: “Bảo vệ rừng là bảo vệ sự sống, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ chủ quyền biển, đảo”. Những dòng chữ đỏ trên nền vàng tồn tại giữa không gian xanh mướt là lời thề son sắt của người lính Trung đoàn 152. Đi sâu vào bên trong đơn vị, tôi ngỡ ngàng đứng trước một "kỳ quan" của sức lao động, đó là hồ chứa nước ngọt rộng hơn 2ha.
Đến Trung đoàn 152, tôi ngỡ mình đang lạc vào một công viên giữa trùng khơi. Ở đây, bên những khối nhà làm việc, sân vườn và đường nội bộ là đủ loại cây xanh, bồn hoa, chẳng khác gì những đơn vị trong đất liền. Trung tá Phạm Quốc Cường chia sẻ, đây chính là "mạch sống" của đảo. Có nước ngọt, bàn tay người lính đã biến sỏi đá khô cằn thành những vườn tăng gia chuyên canh tươi tốt. Những giàn bầu, bí trĩu quả, những luống rau cải xanh mướt mắt phủ lên màu đất đỏ khiến vị mặn mòi của biển khơi dường như bớt gắt gao hơn.
    |
 |
| Khẩu đội pháo phòng không Trung đoàn 152, Quân khu 9. Ảnh: HỮU HÙNG |
Ở đây, tôi thấy những người lính trẻ nước da sạm đen vì nắng gió nở nụ cười rạng rỡ, cùng nhau chăm sóc bồn hoa, cây cảnh thật thanh bình.
Trung sĩ, Tiểu đội trưởng Danh Tuyền, quê ở Gò Quao, An Giang, hiện công tác tại Trung đội 4, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, kể với tôi rằng ngoài nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu phòng thủ đảo, cán bộ, chiến sĩ đơn vị còn có nhiệm vụ rất quan trọng đó là tuần tra, kiểm soát, canh gác, giữ rừng. Với họ, rừng là tài sản quý như máu thịt. Màu xanh của quân phục và những vệt mồ hôi vằn vện trên bộ dã chiến họ mang hằng ngày khi lăn lộn ở thao trường với các bài chiến thuật hay khi gác rừng đã hòa vào màu xanh của đảo.
Danh Tuyền tâm sự, ở đảo rất hay mất điện nên chất đốt với các hộ dân nơi đây rất quan trọng. Khi có điều kiện, bộ đội sẽ vào rừng để tỉa những cây khô mục mang xuống tặng bà con làm chất đốt. Việc ấy không chỉ giúp phòng, chống cháy rừng mà còn củng cố thêm "thế trận lòng dân" vững chắc.
Thượng tá Nguyễn Thanh Tuấn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 152, người từng có nhiều năm gắn bó với Thổ Châu chia sẻ với tôi rằng trước kia, do nhận thức còn hạn chế, nhiều người dân vẫn vào rừng đốn củi. Để giữ lấy “lá phổi xanh”, bộ đội phải kiên trì tuyên truyền, vận động từng hộ gia đình rồi chủ động gom nhặt củi khô mang đến tận nhà tặng bà con. Việc làm ấy đã trở thành cầu nối gắn kết để tình quân dân thêm bền chặt. Từ đó, hơn 13.000ha rừng tự nhiên trên đảo được giữ gìn, mang lại môi trường trong lành và nguồn nước ngọt quý giá cho cả bộ đội và nhân dân.
Chiều xuống từ bao giờ, dường như gió biển mạnh hơn, vị mặn của biển cũng vì thế mà tăng lên. Tôi thấy những người lính Trung đoàn 152 vẫn lặng lẽ, cần mẫn với các công việc. Trên đường về sở chỉ huy Trung đoàn, thỉnh thoảng, tôi gặp những tổ 3 người bước nhanh trong ánh hoàng hôn vàng rực. Họ đi gác và trở về từ các vọng gác mãi trong rừng sâu. Nhìn họ, tôi nghĩ đến những chú ong chăm chỉ làm mật ngọt cho đời. Ở đây, những loại mật mà người lính Trung đoàn 152 sinh ra là màu xanh và sự an toàn của rừng, là "thế trận lòng dân" ngày càng được củng cố vững chắc. Điều ấy khiến Thổ Châu có sức sống mạnh mẽ, riêng biệt, cho dù cách đất liền tới 200km và đời sống, công tác bảo đảm hậu cần còn nhiều thiếu thốn.
* *
*
Chia tay Thổ Châu, tàu cao tốc rồ máy, rẽ sóng đưa tôi về đất liền. Hòn đảo nhỏ dần rồi chỉ còn là một vệt xanh thẫm giữa đại dương bao la. Tôi biết, vệt xanh ấy sẽ mãi thức, mãi xanh trong lòng mỗi du khách. Bởi ở đó có Trung đoàn 152 đang viết tiếp những bài ca về tình quân dân, có những người lính ngày đêm dệt nên màu xanh bất tử cho "đảo chạy gió" tiền tiêu của Tổ quốc.
Rồi một ngày tôi sẽ trở lại “đảo chạy gió”!
Bút ký của MẠNH THẮNG