Trên đường đến công trường, Đại tá Phạm Văn Hải, Trưởng phòng Công binh (Bộ Tham mưu Quân khu 3) nói với tôi, tính ra mỗi năm, Phòng Công binh phải thực hiện cả núi việc. Tham gia vào các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật, dự án xây dựng công trình quốc phòng, tham gia diễn tập khu vực phòng thủ, xây dựng lực lượng, xây dựng ngành, rồi tham gia vào hội thao các cấp. Cạnh đó là công việc phòng, chống bão lụt, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Việc nào cũng có yêu cầu cao về chất lượng, tiến độ và tính chất an toàn, trong khi lực lượng thì dàn mỏng, phân tán.

Gần 10 giờ trưa, tôi và anh Hải có mặt tại công trình quốc phòng do Xưởng 10 Công binh (Xưởng 10), Bộ Tham mưu Quân khu 3 thi công. Đây là công trình khá đặc biệt vì có kết cấu phức tạp và đòi hỏi cao về sự bền vững, chắc chắn, khả năng chống chịu đáp ứng yêu cầu chiến tranh công nghệ cao.

leftcenterrightdel

Xưởng 10 Công binh, Bộ Tham mưu Quân khu 3 thi công công trình quốc phòng. Ảnh: LÊ THÀNH 

Trung tá Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó giám đốc Xưởng 10 đích thân dẫn chúng tôi đi thăm công trình đang ở giai đoạn hoàn thiện. Anh Nghĩa nói, đây là giai đoạn tốt nhất để đẩy nhanh tiến độ cho xong những phần việc quan trọng trước khi thời tiết xấu, mưa lớn. Thế nên, dù mới đầu hè thì mọi cán bộ, chiến sĩ vẫn phải tranh thủ tận dụng tối đa thời gian, thậm chí lấn sáng, lấn tối để hoàn thành các chỉ tiêu, định mức. Anh cũng cho biết, lực lượng của Xưởng 10 đang thi công ở nhiều địa điểm khác nhau trên địa bàn Quân khu chứ không riêng vị trí này.

leftcenterrightdel
Xưởng 10 Công binh, Bộ Tham mưu Quân khu 3 thi công công trình quốc phòng. Ảnh: LÊ THÀNH 

Chúng tôi đi vào sâu trong lòng đất theo một đường thông nhỏ hẹp, dài tít tắp. Dưới ánh sáng của bóng điện treo trên vách, tôi phát hiện thành và nóc đường thông đã được quét một lớp xi măng màu xám loang lổ. Tôi ngửi thấy mùi bê tông và cả mùi bùn đất quyện vào nhau thành một thứ mùi rất đặc trưng, khó tả rõ bằng lời.

Vừa đi, Trung tá Nguyễn Trọng Nghĩa vừa kể với tôi, quá trình thi công công trình này gặp nhiều khó khăn, nhất là khi thi công phần móng, vì nền đất yếu và ngập nước. Lúc ấy, trong nội bộ xuất hiện hai luồng ý kiến. Một là tuân thủ phương án thi công đã được phê duyệt, cho dù có bị đội kinh phí dự toán thì báo cáo để trên kiểm tra, đánh giá, giải quyết. Hai là suy nghĩ, tính toán để đưa ra phương án thi công tối ưu, vừa tiết kiệm, vừa bảo đảm tiến độ và độ bền công trình. Sau rồi tất cả cán bộ, kỹ sư cùng lao vào thảo luận. Lúc đầu, các anh chọn phương án tạo hố tụ nước rồi dùng máy công suất lớn để bơm nước ra ngoài, sau đó nạo vét, đóng cọc. Nhưng sau khi tính toán thì thấy không khả thi vì khó bảo đảm chất lượng kỹ thuật cho công trình. Cuối cùng quyết định phương án dùng máy khoan giếng để khoan nhiều giếng khác nhau có cùng đường kính trên diện tích của mặt đế móng. Mỗi giếng sử dụng một máy bơm cỡ nhỏ hoạt động liên tục. Ưu điểm của phương pháp này là tuy đưa nước ra ngoài không nhanh nhưng lại bảo vệ gần như nguyên vẹn kết cấu của mặt đất tự nhiên. Khi đã đóng cọc xong, chỉ cần bơm cát đen lấp đầy các giếng là giúp cho thi công đế móng bê tông bằng phẳng, ổn định, không lo đứt gãy. Điều quan trọng nhất là kinh phí thi công giảm tới gần 10% so với phương án đã được phê duyệt.  

leftcenterrightdel
Xưởng 10 Công binh, Bộ Tham mưu Quân khu 3 thi công công trình quốc phòng. Ảnh: LÊ THÀNH 

Sự sáng tạo của họ như tạo ra cỗ máy để đẩy nhanh tiến độ. Bởi ngoài giải pháp thi công này, họ còn những sáng kiến khác rất hữu dụng như "chế tạo cốp pha", "cải tiến búa rung"... Tôi thầm nghĩ nó không đơn thuần là cải tiến kỹ thuật thuần túy, mà cao hơn, đó là khúc ca về khát vọng chinh phục và làm chủ của con người. Họ lao động bằng cơ bắp, trái tim và khối óc, ứng dụng phương tiện, khoa học, công nghệ và biến những điều tưởng chừng không thể thành có thể.

Tìm hiểu về họ, tôi còn được biết, mỗi năm, những con người ấy chỉ về thăm nhà vài lần. Nỗi nhớ gia đình, nhớ hơi ấm bếp lửa, nhớ tiếng cười con trẻ trở thành gia vị trong mỗi bữa cơm nơi công trường lộng gió.

Một quân nhân trẻ tâm sự với tôi rằng, khi thi công ở đảo xa, trong đêm khuya thanh vắng, anh nghe tiếng sóng biển rì rầm, tiếng gió hú qua khe núi và chợt thấy lòng chùng xuống, thao thức. Nhưng rồi khi bình minh đến, anh và đồng đội lại gạt nỗi nhớ nhung ấy như gạt đi những giọt mồ hôi trên trán và tiếp tục bước vào công việc thường nhật. Ở công trường vượn kêu, gió hú, tình đồng chí, đồng đội ấm áp là điểm tựa vững chắc hơn cả những khối bê tông mà họ đã hoàn thành.

Sau mấy chục phút đi trong đường thông và bì bõm lội qua những đoạn ngập nước trong điều kiện thiếu không khí và ánh sáng khiến tôi thấy ngột ngạt, bức bối lẫn khó chịu. Lưng, mặt và cả đầu tôi đều đẫm mồ hôi. Bộ quần áo trên người cũng được ưu ái trang điểm bởi những “bông hoa”, dấu vết bùn đất công trường bắn vào. Trung tá Nguyễn Trọng Nghĩa đi bên cạnh luôn có ý ép sát ngay hông để bảo hộ, phòng trường hợp tôi bị trơn trượt.

Sau một hồi loay hoay với cái cột gần giống thang có chân khấp khểnh, tôi cũng leo được lên cửa đường thông. Một luồng khí nóng từ mặt đất tạt vào mặt. Tôi đứng thẳng, ưỡn ngực hít một hơi dài vào phổi như người đi giữa sa mạc tìm được ốc đảo.

Đưa mắt ra xa, nơi có tiếng máy rì rầm, tôi thấy nhiều chiến sĩ đang phơi mình dưới nắng để vót và vận chuyển cọc đến cho chiếc máy xúc ép xuống nền đất. Mặt đất sau khi bị cọc nêm chặt thì phồng lên, nứt toác!

Trên đường bách bộ về lán tạm của những người lính công binh Quân khu 3, tôi suy nghĩ mông lung và thấy thấp thoáng một điều: Trong những đường hầm tối, trên những hòn đảo gió hun hút, giữa những công trường miệt mài đổ nắng, có những con người vẫn lặng lẽ tỏa sáng bền bỉ.

Tôi liên tưởng những con người đó với những chi tiết bên trong của chiếc máy thi công. Tôi nghĩ, họ là trái tim của những người con biết yêu nước, thương dân, trân trọng từng mét đất thiêng liêng của Tổ quốc. Có lẽ vì thế mà mỗi công trình quốc phòng không chỉ đơn thuần có bê tông và cốt thép. Nó là sự trộn lẫn độ cứng của hỗn hợp cường độ vật liệu cộng với mồ hôi của người lính thợ thông qua những đêm trắng bên tiếng máy.

Bởi khi những người lính công binh khoan một lỗ đất, dựng một thanh thép, tính một con số trong bản vẽ là họ đang viết thêm một câu về trách nhiệm, tình yêu Tổ quốc vào lịch sử của LLVT Quân khu 3 và của đất nước thời kỳ mới.

Một ngày nào đó, khi những cơn gió mới thổi về đồng bằng, khi sóng biển bớt dữ hơn và đất trời đã bớt những mùa gió ngược, những công trình họ lặng lẽ xây dựng sẽ nói thay nhiều điều. Đó là biểu tượng của sự cần mẫn, đoàn kết, sáng tạo và lẽ sống vì nhân dân mà họ theo đuổi. Nó cũng là minh chứng về năng lực của họ, giống như những cỗ máy siêu bền bỉ bất chấp nắng mưa, giá lạnh và cả những điều kiện bất lợi.

VŨ THIỆN