Năm 1947, khi vừa 18 tuổi, Nguyễn Trần Thành rời quê lúa Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), gia nhập ngành quân y. Sau khi được học lớp đào tạo dược tá do Xưởng bào chế Liên khu 3 tổ chức, Trần Thành công tác tại Phòng Quân dược I, rồi Trung đoàn 102, Đại đoàn 308. Năm 1949, khi Cục Quân y mở Trường Quân dược, Trần Thành được cử đi đào tạo dược sĩ đại học.

Năm 1953, ông Thành phục vụ Trung đoàn 102 truy kích cánh quân Pháp rút chạy từ Lai Châu tới khu vực Thượng Lào rồi hành quân về nước phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1957, ông tốt nghiệp dược sĩ đại học tại Trường Đại học Y dược khoa Hà Nội. Năm 1964, ông được cử đi thực tập sinh chuyên ngành tiếp tế quân y ở Liên Xô. Trở về nước, ông công tác ở Phòng Dược chính, Cục Quân y, phụ trách công tác chi viện các chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

leftcenterrightdel

Đồng chí Nguyễn Trần Thành. Ảnh tư liệu

Năm 1966, ông Thành phụ trách một đoàn cán bộ thuộc Cục Quân y đi cùng với một số cán bộ thuộc Ủy ban Thống nhất Trung ương, vào kiểm tra công tác vận chuyển hàng chi viện cho các chiến trường phía Nam dọc tuyến vận tải chiến lược 559. Tại thời điểm đó, tuyến đường Trường Sơn bị thiếu gạo, thiếu thuốc và thực phẩm trầm trọng. Bộ đội bị đói dài ngày, phải ăn độn thêm củ rừng. Trong hơn một tháng, ông và đoàn công tác mỗi ngày chỉ được cấp 3 lạng gạo và khi vào tới khu vực Nam Lào thì mức ăn chỉ còn 1 lạng. Dù gian khổ, vất vả, dù đói ăn nhạt muối nhưng ông vẫn thực hiện nhiệm vụ một cách mẫn cán.

Tại Binh trạm 14, khi kiểm tra một kho hàng hậu cần hỗn hợp gồm gạo, thuốc quân y và quân trang, ông Thành thấy dưới gầm các kho hàng có rất nhiều lọ bột penicillin do Trung Quốc sản xuất rơi vãi. Hỏi người thủ kho thuốc, ông được biết những lọ kháng sinh này đã hết hạn sử dụng một tháng. Chỉ huy cụm kho đã ra lệnh thanh lý. Nhưng khi quan sát kỹ lọ thuốc, ông thấy bột thuốc vẫn rời, không bị vón, màu sắc không thay đổi. Bằng cảm nhận trực quan và kinh nghiệm thực tế, ông nhận định thuốc còn sử dụng tốt nên điện về Cục Quân y xin ý kiến. Khi được Phòng Dược chính đồng ý, ông động viên anh em trong đoàn thu nhặt các lọ penicillin vứt bừa bãi dưới gầm các kệ hàng. Sau hơn hai ngày miệt mài thu lượm, đoàn công tác đã thu được hơn 5.000 lọ penicillin. Ông cho đánh máy gia hạn sử dụng thêm 6 tháng, rồi cấp phát một phần cho Phòng Quân y 559, còn lại cấp cho chiến trường B3.

leftcenterrightdel
Các thầy thuốc Viện Y học phóng xạ và Ung bướu Quân đội (Cục Quân y, Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật) phát thuốc miễn phí tới người dân. Ảnh: XUÂN TOAN

Khi vào tới khu vực ngang Tây Nguyên, ông cùng đoàn công tác phát hiện ở một kho thuốc quân y có nhiều kiện hàng vỏ bằng sắt tây bị chọc thủng. Quan sát kỹ, ông thấy các kiện hàng này không ghi rõ tên hàng, tên người đóng gói và tên đơn vị nhận hàng. Khi trở về Cục Quân y, ông đề nghị Phòng Dược chính kiểm tra rồi chấn chỉnh ngay quy cách đóng gói hàng quân y của Kho 708. Tiếp thu sáng kiến của ông, Kho 708 đã quy định chặt chẽ việc ghi đầy đủ tên hàng, tên đơn vị nhận hàng và số lượng từng mặt hàng ở từng kiện hàng. Từ đó đã khắc phục đáng kể tình trạng bị mất và hư hỏng thuốc trên tuyến vận chuyển vào các chiến trường. Đến nay, cách làm khoa học này vẫn được áp dụng.

Năm 1967, Cục Quân y cử ông đi phái viên, phục vụ Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh. Trong những tháng phục vụ tại mặt trận, ông tích cực chỉ đạo quân y các đơn vị thường xuyên kiểm tra thuốc, vật tư, trang thiết bị quân y, bông băng và những loại cơ số phục vụ các tuyến quân y, thường xuyên nắm vững lượng thuốc dự trữ theo quy định ở những cơ sở điều trị. Ông còn đến quân y các trung đoàn, sư đoàn để kiểm tra chất lượng thuốc và hóa chất pha chế dịch truyền, kỹ thuật cất nước cất và kỹ thuật pha chế huyết thanh, các loại thuốc dùng ngay.

Cuối năm 1971, ông Thành cùng dược sĩ Đinh Huỳnh Kiệt và dược sĩ Nguyễn Duy Tô vào phục vụ chiến trường B2, đúng vào thời điểm Phòng Quân y Miền đang khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho kế hoạch quân sự năm 1972. Nhiệm vụ của đoàn là kiểm tra tình hình công tác quản lý, sử dụng thuốc và các vật tư, trang bị quân y ở những xưởng sản xuất thuốc, các kho thuốc thuộc những đoàn hậu cần khu vực và quân y các trung đoàn, sư đoàn chủ lực.

Sau khi kiểm tra, ông Thành kiến nghị Phòng Quân y B2 tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác sản xuất thuốc tại chỗ; xác định rõ phương hướng và biện pháp thực hiện. Tại Ban dược Đoàn Hậu cần 340, ông cùng với dược sĩ Nguyễn Duy Tô hướng dẫn cán bộ dược áp dụng những chế độ về công tác dược đang thực hiện ở Cục Quân y. Ông còn soạn một tập chế độ dược chính, gồm 13 chế độ về hành chính và kỹ thuật. Những chế độ dược do ông Thành soạn thảo rất phù hợp với thực tiễn và điều kiện ở chiến trường B2. Ông cùng với dược sĩ Đinh Huỳnh Kiệt tổ chức một lớp tập huấn cho những cán bộ dược chủ chốt của các đoàn hậu cần, để hoàn thiện bản dự thảo những chế độ công tác dược.

Năm 1984, ông Nguyễn Trần Thành được Bộ Quốc phòng bổ nhiệm chức vụ Phó cục trưởng về dược Cục Quân y. Trên cương vị công tác mới, Phó cục trưởng Nguyễn Trần Thành chủ động và tích cực chỉ đạo mọi mặt công tác về dược, về nhiệm vụ thường xuyên bảo đảm đủ thuốc, vật tư, trang thiết bị, máy y tế cho các đơn vị, đặc biệt là cho nhu cầu sử dụng ngày càng đòi hỏi có nhiều thuốc mới, biệt dược mới, đủ phương tiện và trang thiết bị ngày càng hiện đại ở các cơ sở điều trị, đặc biệt là những bệnh viện loại A của Cục Quân y.

Đầu năm 1986, khi nghe tin Kho 706, Cục Quân y xảy ra tình trạng bị mất thuốc trên đường vận chuyển sang chiến trường K, ông Thành vào TP Hồ Chí Minh để trực tiếp nắm tình hình. Qua báo cáo và điều tra, ông phát hiện ra nguyên nhân mất hàng là do quy cách đóng gói của Kho 706 không bảo đảm chắc chắn, nên các nhân viên áp tải hàng đã tìm cách cạy nắp hòm thuốc để lấy. Ông chấn chỉnh Kho 706 hoàn thiện quy cách đóng gói và cử người trực tiếp áp tải hàng sang chiến trường K, chấm dứt tình trạng mất thuốc.

Cuối năm 1986, ông Nguyễn Trần Thành cùng với Bộ trưởng Bộ Y tế Đặng Hồi Xuân đi kiểm tra các đơn vị quân y và các cơ sở y tế ở khu vực Đông Bắc, gồm: Móng Cái, Tiên Yên, Bình Liêu. Sau khi nắm rõ, ông chỉ đạo bộ phận dược thuộc các đơn vị quân y trên đảo tích cực giúp đỡ các cơ sở dân y trong việc pha chế thuốc, dịch truyền phục vụ cấp cứu cho quân và dân trên các đảo vùng Đông Bắc.

Năm 1988, khi biết quân y của một số đơn vị trên quần đảo Trường Sa thiếu dịch truyền phục vụ cấp cứu, vị Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã chỉ thị cho Phòng Quân y phải cấp tốc tổ chức tập huấn kỹ thuật pha chế dịch truyền cho quân y các đảo; yêu cầu trưởng Phòng Quân y Quân chủng kiến nghị Cục Quân y sớm trang bị phương tiện để quân y trên quần đảo có thể pha chế được dịch truyền tại chỗ.

Trước kiến nghị này, thực hiện chỉ đạo của Cục trưởng Cục Quân y Nguyễn Ngọc Thảo, ông đã vào TP Hồ Chí Minh, trao đổi trực tiếp với Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Ông giải thích và khẳng định không thể tổ chức pha chế dịch truyền ở các đảo xa bờ. Sau đó, Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 2 sản xuất ngay 3.000 lít huyết thanh, đóng chai thủy tinh có dung tích 150ml, thời hạn sử dụng tối đa tới 9 tháng để cấp cho quân y Trường Sa.

Khi nhóm nghiên cứu của dược sĩ Đinh Huỳnh Kiệt ở Trung tâm Kiểm nghiệm-nghiên cứu dược Quân đội (nay là Viện Kiểm nghiệm thuốc và trang bị) triển khai đề tài “Nghiên cứu chiết xuất tinh thể Artemisinin từ cây thanh hao hoa vàng và bào chế thuốc sốt rét Artemisinin”, ông đã chú ý động viên, khuyến khích, tạo mọi thuận lợi cả về vật chất và tinh thần để nhóm nghiên cứu tập trung tiến thành theo kế hoạch đã dự kiến. Khi chiết xuất thành công tinh thể Artemisinin, ông thay mặt Cục Quân y báo cáo tóm tắt quá trình nghiên cứu với Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Song và sau đó tặng 100g bột Artemisinin cho Bộ Y tế để tiếp tục nghiên cứu. Ông Thành cùng với Phó cục trưởng Phan Hữu Đào hoàn thành Chương trình nghiên cứu phát triển thuốc, tăng cường khả năng tự lực về thuốc và trang bị y tế và là đồng tác giả của hai công trình tổng kết công tác quân y trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (phần chiến lược), chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và ở Campuchia (1979-1989).

Đại tá, TS NGUYỄN HỮU MỸ, Phó cục trưởng về dược Cục Quân y