Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 9-8-1972 đã viết: “Mỗi mét vuông đất tại Thành cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày đêm, từ ngày 28-6 đến 16-9-1972”.

Hàng vạn người lính bơi qua sông Thạch Hãn vào Thành cổ và nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại với dòng sông, để rồi cựu chiến binh Lê Bá Dương ngày hòa bình trở về, từ sâu thẳm trái tim mình đã viết nên những câu thơ để đời: Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm!

leftcenterrightdel
Nhà thơ Nguyễn Hồng Hà (bên trái) và nhà văn Đỗ Chu tại Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ XI. Ảnh tư liệu

Dòng sông Thạch Hãn đã trong xanh lại. Song, những vần thơ về Thành cổ, về Ngã ba Long Hưng vẫn gợi nên bao bùi ngùi, thương cảm. Đã có hàng chục, hàng trăm nhà thơ với cả ngàn câu thơ viết về chiến trường Quảng Trị, về 81 ngày đêm khói lửa, đạn bom nơi Thành cổ, nhưng tôi bị ấn tượng bởi thơ của một người lính-“người lính ít lời”: Những người lính ít lời/ Chân không giày, đội mưa bay trên trận địa/… Ăn vội vã-những người lính ít lời/ Ngủ vội vã-những người lính ít lời (“Những người lính ít lời”). “Người lính ít lời” ấy là nhà thơ Nguyễn Hồng Hà.

Nguyễn Hồng Hà nhập ngũ năm 1966 và có nhiều kỷ niệm sâu sắc ở chiến trường Khe Sanh, Quảng Trị, Đường 9-Nam Lào. Ông có 15 năm gắn bó với Sư đoàn 308 trên nhiều cương vị: Từ người lính chiến đấu đến cán bộ đại đội, tiểu đoàn, trợ lý tuyên huấn sư đoàn…

“Bài thơ viết ở nhà mình” được trao giải C trong cuộc thi thơ của Tuần báo Văn Nghệ năm 1975-1976. Cùng đoạt giải năm ấy là những nhà thơ tên tuổi khác, như: Hữu Thỉnh, Văn Lê, Anh Ngọc (giải A); Lê Đình Cánh, Huyền Sâm, Đoàn Việt Bắc (giải B); Nguyễn Hồng Hà, Ngô Văn Phú, Phạm Minh Dũng, Nguyễn Phan Hách, Đỗ Minh Dương (giải C)… “Bài thơ viết ở nhà mình” ngắn chưa đầy 5 khổ là bài thơ của anh lính trẻ, lính Quảng Trị hiền lành và “ít lời”. Bài thơ không thấy lửa khói, bom rơi, đạn nổ mặc dù tác giả vừa từ chiến trường ác liệt trở về. Đó là bài thơ nói về cái cảm giác đêm đầu tiên được ngủ ở nhà mình sau những năm dài ngủ rừng, ngủ nơi chiến hào, ngủ cùng bom đạn. Mở đầu bài thơ viết: Mười năm mắc võng ngủ rừng/ Phong phanh chỉ lấy mái tăng làm nhà/ Bốn mùa gió gác trăng qua/ Đã quen rồi với mái nhà của chim…

Về lại ngôi nhà thân yêu, người lính thấy “bỗng dưng hồi hộp”, “giữa nhà lại thấy chung chiêng núi đèo” vì nhớ những: Trưa “bão vặn xiêu rừng già”, những “tiếng cối quân ta giã đồn”… và nhớ, và thương nhiều hơn là đồng đội còn đang “ôm chiến hào”! Thơ Nguyễn Hồng Hà là vậy. Anh đã sống cùng trận mạc, sống, chiến đấu cùng đồng đội và viết cũng vậy, luôn viết về đồng đội!

Nguyễn Hồng Hà đã có 5 tập thơ được xuất bản: “Chùm quả đầu mùa” (in chung NXB QĐND, năm 1980), “Từ anh tới em” (NXB QĐND, năm 1990), “Đắng chát và ngọt ngào” (NXB Hội Nhà văn), “Người lính ít lời” (NXB QĐND, năm 2015)…

Nói về thơ Nguyễn Hồng Hà, người ta không thể không nhắc đến những bài thơ hay, như: “Bài thơ viết ở nhà mình”, “Chúng tôi đi bốc mộ ở Trường Sơn”, “Khấn động thổ”, “Thương nhớ”, “Chú Lục tâm thần”… Những bài thơ ấy đã là tấm giấy thông hành đưa anh vào làng thơ, vào làng văn Việt Nam; đồng thời như một “đặc sản” thơ của Nguyễn Hồng Hà!

Thơ Nguyễn Hồng Hà viết ở chiến trường, viết về người lính hay và cảm động: Từ lúc trên trời cà kếu bay ra/ Nửa đêm gọi cả trung đoàn bừng thức (“Nửa đêm ở một trạm rừng”); Súng sắp nổ rồi không làm sao yên được/ Chỉ vì bầy ong lùa mãi không đi (“Bầy ong”), Lời chị rao dưa như gió thoảng/ Thổi màu xanh vào cửa mọi nhà/ Và màu xanh loang đi xóm ta/ Gặp làng xanh bộ đội/ Người lính bỗng sững sờ chẳng nói/ Nhìn áo mình và miền đất hoang sơ/ Đã xanh lại màu xanh lời rao dưa (“Nghe tiếng rao dưa ở Quảng Trị sau ngày giải phóng”)…

Thơ của Nguyễn Hồng Hà là những bài thơ hậu chiến viết về những người lính đã hy sinh ngoài mặt trận, về cả những người lính trở về với những câu thơ, những bài thơ đầy chiêm nghiệm, luôn đậm ấn tượng, chân tình và xa xót: Tụi bay đi… thật tiếc thay!/ Những thằng lính trận hây hây má hồng/ Tụi bay chưa biết phải lòng/ Cuộc đời trai, những chấm hồng chiến tranh/ Nhoàng một cái! Thế là “xanh”!/ Chiến trường còn lại những anh lính già… (“Thương nhớ”).

Và khi rời chiến trận, ông được sống trở về, được cấp cho một miếng đất làm nhà. Hôm làm lễ động thổ, ông vẫn khôn nguôi nhớ về những đồng đội của ông đã ngã xuống nơi chiến trường để ông được sống, để ông có được ngày hôm nay. Và nhà thơ viết: Trên khen ta lính chiến hào/ Cho ta một miếng đất ao làm nhà/ Được ngày động thổ gọi là/ Ta ngồi ta vái gần xa đất trời/ Thưa rằng, tín chủ là tôi/ Vốn quê tỉnh Bắc, vốn nòi nông dân/ Vốn nhà rơm rạ cù lần/ Nửa đời chinh chiến phong trần về đây/ Tưởng rằng “da ngựa bọc thây”/ Nào ngờ còn có phận may mỉm cười/ Nhờ mấy thằng bạn chết rồi/ Đứa nằm che đạn, đứa ngồi đỡ bom… (“Khấn động thổ”).

Đây là những câu thơ viết về một người lính trở về và tình yêu thương của một người mẹ phải tiếp tục chăm con, nuôi con sau khi biết con mình bị ảnh hưởng của “di chứng chiến tranh”: Chú như là con của mọi nhà/ Cánh chim tật trong vườn, cây tre vẹo bụi tre/ Giọt máu mẹ đón về từ bão tố/ Chú nhớ gì mà mắt vẫn ngẩn ngơ/ Đứa con choán hết phần đời của mẹ/ Đếm từng ngày, từng thang thuốc, mẹ mong… (“Chú Lục tâm thần”).

Đây là tâm trạng đau đớn của một người trong cuộc khi trở lại chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội: Có gió bấc gì đâu mà mảnh đạn dưới da/ Lại lần nữa cứa tôi nhức nhối/ Có thể nào những người đồng đội/ Tôi gọi tìm trong khoảng đất hìu hiu?.../… Đưa anh về có cả màu mây/ Với nắm đất các anh nằm lại/ Vài thứ đơn sơ của đời bộ đội/ Con dao mở rừng, đôi dép gói trong tăng! (“Chúng tôi đi bốc mộ ở Trường Sơn”).

Trở lại “Bài thơ viết ở nhà mình”-giải thơ Báo Văn Nghệ năm 1975. Tôi được biết cuộc thi năm ấy-năm 1975, cuộc thi thơ đầu tiên sau đại thắng mùa xuân của Báo Văn Nghệ có tới 1.600 người dự với gần 15.000 bài, trong đó có thơ của những tên tuổi: Hữu Thỉnh, Văn Lê, Anh Ngọc, Ngô Văn Phú, Nguyễn Phan Hách, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Hoàng Sơn, Vĩnh Quang Lê... Ấy vậy mà “người lính ít lời”, người lính Quảng Trị vẫn “ẵm” giải!

Nhà thơ Nguyễn Hồng Hà nhớ lại: “Tôi nhập ngũ năm 1966 vào Sư đoàn chủ lực 308 làm lính trinh sát hoạt động khi thì “cơm Bắc, giặc Nam” bên này, bên kia sông Bến Hải; khi thì bám đất, bám dân Quảng Trị giáp mặt với quân thù, lặn ngụp cùng đạn bom, sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc: Cuộc đời trai, những chấm hồng chiến tranh/ Nhoằng một cái! Thế là “xanh”! Ông cho biết thêm, ông cảm thấy thật vinh dự cho người lính ở chiến trường Quảng Trị trong chùm thơ đầu tay gửi ra Báo Văn Nghệ năm 1971 đã được nhà phê bình văn học Hoài Thanh đọc, cho đăng và giới thiệu trên báo; ông lại được đích thân nhà thơ Xuân Diệu trao giải trong lễ trao giải cuộc thi thơ 1975-1976 do Tuần báo Văn Nghệ tổ chức. Ông kể, ông còn được ban tổ chức cuộc thi tặng thêm một cân kẹo mang về mời anh em Phòng Chính trị Sư đoàn Quân Tiên Phong-đơn vị ông đang làm nhiệm vụ cùng liên hoan. Ông bảo, ông rất cảm động và nhớ mãi cuộc vui ấy cho đến tận bây giờ khi đã là “ngài đại tá” về hưu ! Trước khi về hưu, ông là Trưởng ban Tư liệu của Báo Quân đội nhân dân.

Và bây giờ là ông Đại tá, cựu chiến binh Nguyễn Hồng Hà tuổi đã ngoại thất tuần!

Thập Tam trại, tháng tư năm 2019

NGÔ VĨNH BÌNH