Ngày 26-3-1927, nhà văn nổi tiếng thế giới người Columbia, Gabriel Garcia Marquez đã cất tiếng khóc chào đời tại thành phố nhỏ ven biển Aracataca. Ông là con đầu trong một gia đình tạm gọi là có “của ăn của để” và đông tới 16 người con. Chính Marquez đã sáng tạo ra thể loại văn học huyền ảo lừng lẫy thế kỷ 20 và đã được trao giải thưởng Nobel Văn học... Những năm cuối đời, ông gặp nhiều vấn đề về sức khỏe liên quan tới bệnh ung thư và mất ngày 17-4-2014 tại Mexico, nơi ông đã cư trú gần nửa thế kỷ.

Ngay khi còn sống, Marquez, bản thân là một nhà báo lão luyện, đã trở thành huyền thoại của làng truyền thông quốc tế, đặc biệt là sau khi tiểu thuyết bất hủ “Trăm năm cô đơn” mang lại cho ông giải Nobel Văn học năm 1982. Trong rất nhiều tác phẩm của mình, nhà văn đã đi sâu vào những suy tư về ý nghĩa của cuộc sống, bản chất của tình yêu và sự phản bội.

leftcenterrightdel
Nhà văn Gabriel Garcia Marquez. Ảnh: BBC 

Lớn lên cùng những huyền thoại

Cha của Marquez là Gabriel Eligio Garcia, một nhân viên điện tín, rất đào hoa. Khi Gabriel Garcia Marquez lên hai tuổi, gia đình chuyển tới thành phố nhỏ Sucre, vì ở đó, người cha có một tiệm thuốc nên cậu con trưởng đã ở lại với ông bà ngoại tại Aracataca. Chính ông bà ngoại đã giúp Marquez hấp thụ những tinh hoa văn hóa dân gian và những nét đặc sắc trong cách nói quần chúng mà về sau đã trở thành sức hấp dẫn đặc biệt trong sáng tác của nhà văn.

Ông ngoại của Marquez vốn là cựu chiến binh, một người kể chuyện tuyệt vời, biết diễn giải những khái niệm triết học phức tạp theo cách giản đơn để ngay cả một đứa trẻ cũng có thể hiểu được. Bà ngoại đã giúp Marquez biết nhiều truyền thuyết dân gian, những câu chuyện về thần linh và các sự kiện huyền thoại như thể đấy là những chân lý “bất di bất dịch”. Không ngẫu nhiên mà sau này, phong cách văn học của Marquez được gọi là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo với sự hòa quyện chặt chẽ và tự nhiên của những cốt truyện đời thực với những việc bí ẩn đầy lãng mạn...

Năm 1952, Marquez bắt đầu tham gia làm báo ở thủ đô Bogota và chính nghề báo đã giúp ông đi tới nhiều nơi, thấy nhiều thứ. Tháng 7-1955, Marquez trong vai trò phóng viên Báo El Espectador đã sang châu Âu. Ông hành nghề ở Rome, đồng thời theo học đạo diễn ở Trung tâm Điện ảnh thử nghiệm. Rời Rome, Marquez tới Paris. Khi đó, một cuộc đảo chính đã xảy ra ở Columbia buộc Marquez phải ở lại Paris thêm một thời gian. Chính ở đó, năm 1956, ông đã viết truyện vừa “Không ai viết thư cho đại tá” (in thành sách năm 1961), tác phẩm thể hiện khá rõ ảnh hưởng của Ernest Hemingway, nhưng vẫn in dấu đậm đà của nghề làm báo.

Với tư cách phóng viên của nhiều tờ báo châu Mỹ Latin, Marquez đã tới nhiều nước châu Âu. Có thời gian ông về châu Mỹ Latin và ở Venezuela... Từ năm 1962, ông chọn Mexico làm nơi cư trú chính. Vừa làm báo, Marquez vừa trau dồi ngòi bút văn chương và năm 1967, ông cho ra mắt tác phẩm chính của đời mình: “Trăm năm cô đơn”. Cuốn tiểu thuyết này đã mở ra một thời đại mới với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học châu Mỹ Latin và nhanh chóng được cả thế giới tôn vinh. Nhờ “Trăm năm cô đơn” mà Marquez được trao giải Nobel Văn học năm 1982... Những tác phẩm tiếp theo của Marquez luôn được coi là sự kiện trong đời sống văn học quốc tế.

Văn học đã giúp Marquez trở nên giàu có và danh tiếng, nhưng cho tới cuối đời, đối với ông, nghề làm báo vẫn đầy hấp dẫn. Với tư cách phóng viên, ông đã đi nghìn dặm xa xôi để thấu hiểu rõ hơn tâm hồn người Columbia.

Quan niệm hành nghề

Khi đã là một nhà văn danh tiếng, Marquez nhớ lại về thời thanh niên sôi nổi làm phóng viên của mình, khi mà như chính ông nói, ở Columbia chưa có bất cứ một học đường nào dạy về báo chí. Ông viết: “Chúng tôi đã học nghề làm báo ngay trong phòng phóng viên, ở nhà in, ở quán cà phê gần tòa soạn và ở những đêm thứ sáu lang bạt kỳ hồ. Tờ báo chính là nhà máy sản xuất ra các phóng viên và in tin tức một cách toạc móng heo. Cánh phóng viên chúng tôi luôn luôn ở bên nhau, nương tựa vào nhau, sống một cuộc đời chung và đều say mê công việc đến nỗi không trò chuyện với nhau về một vấn đề gì khác. Công việc đã giúp gây dựng nên những mối quan hệ bằng hữu bền chặt và gần như không còn thời gian để sống một cuộc đời riêng tư ngoài công việc. Khi đó, không ai tổ chức các cuộc họp giao ban tòa soạn bắt buộc, nhưng hằng ngày, cứ vào lúc 5 giờ chiều, các nhà báo tập trung ngồi uống cà phê ở phòng tin tức và lấy lại hơi sau cuộc chạy đua trong ngày. Chúng tôi chỉ đơn giản trò chuyện với nhau, bàn tán về những tin tức nóng hổi trong từng chuyên mục của tờ báo và bồi thêm những đường nét cuối cùng vào bài vở dành cho số báo sáng mai. Khi đó, tờ báo chia thành 3 phần lớn: Tin tức, sự kiện giật gân (những bài “đinh”) và các bài của ban biên tập. Bộ phận uy tín cao nhất và “kín” nhất là phòng biên tập: Các nhà báo ở bậc thấp nhất của kim tự tháp này, đâu đó giữa nhân viên thực tập và nhân viên loong toong. Thời gian và bản thân công việc về sau chứng minh rằng, trung tâm nhạy cảm của nghề báo đặt ở chỗ khác. Năm 19 tuổi, tôi đã bắt đầu sự nghiệp như một cộng tác viên văn học vô danh trong phòng biên tập và từ từ, với nhiều khó khăn mới lần lên được nấc thang trên cùng và trở thành phóng viên tập sự...”.

Theo Marquez, các phương tiện kỹ thuật càng phát triển thì càng có thể làm cùn đi năng lực cảm nhận cuộc sống đích thực của nhà báo. Ông viết: “Bản thân nghề làm báo có lẽ đã không phát triển nhanh như những công cụ hành nghề. Các phóng viên bị rối lẫn trong mê hồn trận của những công nghệ, thứ mà với sự vội vã, điên dại luôn đẩy họ vào tương lai, không hề có gì kiểm soát cả. Nói một cách khác, công việc làm báo đã bị lôi kéo vào cuộc chạy đua quyết liệt để cách tân kỹ thuật và thôi giáo dục một cách nghiệt ngã các chiến sĩ bộ binh (các phóng viên) của mình, quên bẵng đi những thao tác hợp đồng làm việc từng hỗ trợ cho tinh thần của nghề nghiệp. Các phòng phóng viên dần dà trở thành các phòng thí nghiệm nước cất, nơi làm việc của những con sói cô độc và từ đó, có cảm giác như dễ dàng thiết lập các mối quan hệ với các nền văn minh nằm ở ngoài trái đất hơn là với tâm hồn của độc giả. Quá trình phi nhân văn hóa đang phóng nước kiệu.

Trước khi máy đánh tin điện và máy Telex  được sáng chế, một kẻ tự nguyện tuẫn nạn nào đó chăm chú nghe đài phát thanh để từ mớ hỗn độn gần như gầm gào và réo rít của vũ trụ lọc được các tin tức từ khắp thế giới. Một phóng viên nắm được thông tin tốt thường phải lắp ráp các mẩu vụn, vẽ nên khung cảnh và những chi tiết thích hợp, nói tóm lại là phải phục chế bộ xương của khủng long theo mẫu của đốt xương sống duy nhất. Tên tác giả khi ấy bị cấm nêu ra-đó là độc quyền thiêng liêng của tổng biên tập; quy tắc lúc đó là, ngay cả nếu thực sự không phải ông ta viết các bài xã luận hay các cột của tòa soạn, thậm chí bằng thứ ngôn ngữ hỗn độn và hoàn toàn không thể hiểu nổi và như lịch sử đã cho thấy, đã được sửa sang thành dáng vẻ rất oách bởi nữ nhân viên đánh máy riêng của ông ta, được tuyển mộ chủ yếu là vì mục đích đặc biệt này...”.

Theo Marquez, trong các tác phẩm báo chí của xã hội hiện đại còn rất ít tính khách quan. Sự việc và ý kiến của phóng viên đã hòa quyện làm một: Các lời bình luận thường xuyên xuất hiện trong tin tức, các bài báo của tòa soạn cũng chứa đầy các sự việc. Sản phẩm cuối cùng không trở nên tốt hơn nhờ thế và chưa bao giờ trước đây, nghề phóng viên lại mang trong mình nhiều hiểm nguy như vậy. Những sai lầm cố tình hay vô ý, những tác động đầy động cơ xấu hay những sự bóp méo cay nghiệt đã biến tin tức thành một vũ khí đáng gờm. Những lời dẫn hướng tới “nguồn tin” hay “các viên chức chính phủ” muốn giấu tên hay những nhân chứng cái gì cũng biết nhưng lại không được ai biết đến cả đang che giấu tất cả những vi phạm và những vi phạm này không bị trừng trị... Marquez nhận xét: “Kẻ có lỗi tỏ ra ngoan cố trong cái quyền không tiết lộ nguồn tin của mình mà không hề tự hỏi rằng, bản thân anh ta có bị trở thành vũ khí ngoan ngoãn trong tay nguồn tin đã lợi dụng anh ta để đưa ra thông tin trong hình thức có lợi cho y nhất. Theo tôi, chính những nhà báo tồi mới giữ kín nguồn tin như con ngươi của mắt mình, đặc biệt nếu đó là nguồn tin chính thức, họ huyền thoại hóa nó, bảo vệ, nâng niu nó và rốt cuộc đã trở thành đồng lõa một cách nguy hiểm với nó và chối bỏ mọi nguồn thông tin khác...”. 

ĐẶNG ĐÌNH NGUYÊN