QĐND - Chiến tranh Thế giới lần thứ hai được coi là cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử loài người với khoảng 62 triệu người chết. Trong cuộc chiến ấy, còn có những câu chuyện thuộc hạng kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh.

Nhà thờ Đức Bà Pa-ri từng bị đặt bom trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Ảnh tư liệu

 

Vũ khí xuyên lục địa đầu tiên

4 tháng sau khi quân Nhật tấn công Trân Châu Cảng, 16 chiếc máy bay cất cánh từ Hàng không mẫu hạm Hornet của Mỹ đã tiến hành một cuộc không kích táo bạo vào Tô-ki-ô. Tuy cuộc tấn công này gây ra thiệt hại không đáng kể nhưng nó đã thổi bùng lên hiệu ứng tâm lý. Với nỗi khát khao trả thù, các nhà hoạch định kế hoạch chiến tranh của Nhật đã tìm cách đánh vào lãnh thổ nước Mỹ. Sau hai năm tập trung chuẩn bị bí mật, người Nhật cho ra đời loại vũ khí xuyên lục địa đầu tiên để tấn công nước Mỹ vào năm 1944. Đó là những khinh khí cầu mang bom. Những khinh khí cầu này có đường kính 10m. Nhờ luồng phản lực cao nên chuyến hành trình vượt Thái Bình Dương của chúng chỉ mất khoảng 4 ngày.

Trong vài tháng, người Nhật đã thả hơn 600.000 vũ khí được gọi là “Fu-Go” này về phía nước Mỹ. Những quả khinh khí cầu rơi xuống các thành phố, cánh rừng và các trang trại trên khắp nước Mỹ. Mỗi khinh khí cầu có tải trọng 135kg, gồm các thiết bị định hướng, cơ cấu ngòi nổ, 3 quả bom cháy để gây hỏa hoạn và một quả bom nổ để gieo rắc nỗi hoảng loạn.

Khinh khí cầu “Fu-Go” mang bom của Nhật.

Ước tính có khoảng 1000 khinh khí cầu đã rơi xuống nước Mỹ. Một số quả còn bay tới tận Mi-chi-gân. Một quả khinh khí cầu đã khiến 6 người đi pích-ních ở Ô-rê-gôn thiệt mạng. Một quả khác làm một nhà máy ở Han-phoóc, Oa-sinh-tơn nằm trong dự án chế tạo bom nguyên tử phải tạm thời đóng cửa.

Thiệt hại mà những khinh khí cầu gây ra tuy nhỏ nhưng mối nguy cơ hiện hữu. Phản ứng của Chính phủ Mỹ là phong tỏa mọi thông tin về những cuộc tấn công đó. Chính sách phòng vệ “im hơi lặng tiếng” này đã làm cho Bộ tư lệnh tối cao Nhật Bản tin rằng, kế hoạch đã thất bại và cho ngừng lại. Thực tế, nếu Nhật tiếp tục kế hoạch vào mùa xuân và mùa hè năm 1945, những khinh khí cầu có thể gây ra sự hỗn loạn ở các bang miền Tây nước Mỹ vào mùa cháy rừng.

Ta đánh… mình

Năm 1942, quân Nhật xâm lược, chiếm đóng hai hòn đảo Át-tu và Ki-xca thuộc quần đảo A-lê-tu-an. Đây là lần đầu tiên lãnh thổ Hoa Kỳ bị kẻ thù chiếm đóng kể từ sau cuộc chiến năm 1812.

Quân Mỹ giành lại được quyền kiểm soát hòn đảo Át-tu vào tháng 5-1943 nhưng chịu thương vong nặng nề. Sau đó, vào tháng 8, quân Mỹ tiếp tục tấn công đảo Ki-xca.

Liên quân Mỹ và Ca-na-đa gồm 35.000 quân đổ bộ lên bờ biển và được một hạm đội hải quân lớn hỗ trợ. Những cuộc đổ bộ đầu tiên không vấp phải sự kháng cự nào, nhưng những người lính Mỹ biết rằng, quân Nhật sẽ nhử họ tiến sâu hơn trước khi bắn trả. Trận chiến nhanh chóng trở thành ác mộng. Họ nghe thấy tiếng trọng pháo, nhưng màn sương mù khiến họ không thể nhìn thấy kẻ thù. Những báo cáo con số thương vong bắt đầu bay về và thương binh được chuyển ra tuyến sau ngày càng nhiều. Những người lính tiến lên một cách chậm chạp, trèo lên những đỉnh núi dựng đứng, vừa đi vừa nổ súng.

Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, 32 người lính tử trận và hơn 50 người khác bị thương, phe Đồng minh choáng váng phát hiện ra một điều: Ở đó không có kẻ thù nào cả! Hóa ra, quân Nhật đã tiến hành một cuộc di tản đầy khôn ngoan 3 tuần trước đó, rút 6000 quân ra khỏi hòn đảo mà hàng rào phong tỏa của Mỹ không hề hay biết. Lính Mỹ và lính Ca-na-đa đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, nhưng họ lại nhắm bắn vào nhau.

Cuộc tấn công có mật danh “Cottage” này đã được Tạp chí Time gọi là “JANFU”, có nghĩa là “Mớ lộn xộn của Hải quân liên quân”.

“Liên minh” kỳ cục

Chiến tranh có thể tạo ra những bạn đồng hành kỳ lạ. Nhưng có lẽ, mối quan hệ của Cơ quan Tình báo hải quân Mỹ với ma-phi-a trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần thứ hai là sự kỳ lạ hiếm thấy.

Mọi chuyện bắt đầu khi chiếc tàu SS Normandia chở khách của Pháp được cải hoán thành tàu chiến bị lật và bốc cháy tại nơi neo đậu ở Niu Y-oóc vào tháng 2-1942. Lo ngại về an ninh cảng biển, Cơ quan Tình báo hải quân Hoa Kỳ quyết định nhờ cậy đến tên trùm du đãng quyền lực nhất Niu Y-oóc, Lu-xi-a-nô.

Khi đó, Lu-xi-a-nô đang phải ngồi tù với mức án 30 năm nhưng hắn vẫn đồng ý cộng tác. Hắn lệnh cho băng đảng của mình hợp tác với hải quân. Những tên du đãng truyền lời lại cho hàng trăm thợ thuyền và ngư dân để họ báo cáo về bất cứ hoạt động đáng nghi nào. Khi Mỹ sẵn sàng xâm lược Xi-xin, Lu-xi-a-nô giúp họ bắt liên lạc với những kẻ có quan hệ với thế giới ngầm ở đây. Thậm chí, hắn còn tình nguyện nhảy dù xuống Xi-xin để thu thập tin tức trước khi quân Đồng minh tiến hành đổ bộ. Tuy nhiên, hải quân đã từ chối.

Sau chiến tranh, hải quân Mỹ đã tìm cách xóa sạch mối quan hệ thời chiến với giới giang hồ. Tất cả các báo cáo đều bị hủy và họ chính thức phủ nhận việc nhận được sự giúp đỡ từ Lu-xi-a-nô. Nhưng có một sự thật, bất chấp những phản đối của dư luận, Lu-xi-a-nô vẫn được ra tù và đưa tới Xi-xin chỉ 6 tháng sau khi chiến tranh kết thúc dù hắn chưa mãn hạn. Có lẽ đó là phần thưởng dành cho những đóng góp không bao giờ được công nhận chính thức của hắn.

“Tên lửa bồ câu”

Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Hải quân Mỹ bắt đầu thử nghiệm một loại tên lửa phản lực dẫn đường, nhưng những mẫu đầu tiên của loại tên lửa mang tên “Bồ nông” này lại không được như mong đợi. Sau đó, một nhà khoa học đã đưa ra ý tưởng khác thường về cách dẫn đường cho tên lửa đến mục tiêu. Đó là, một con bồ câu sẽ điều khiển hệ thống dẫn đường.

Nhà khoa học danh tiếng B.F.Xkin-nơ tin rằng, ông có thể sử dụng biện pháp củng cố tích cực để huấn luyện những con bồ câu cách dẫn đường tên lửa đến được mục tiêu, mặt dù kết cục có thể không mấy tươi sáng đối với những con chim đó. Ông thuyết phục được Lầu Năm Góc cung cấp tài chính cho ý tưởng. Thế là, “Dự án bồ câu” bắt đầu!

Một hệ thống thấu kính và gương hiển thị hình ảnh của mục tiêu lên màn hình ngay phía trước con chim bồ câu. Con chim được huấn luyện để mổ vào mục tiêu, kích hoạt một cơ cấu hướng tên lửa đi đúng hướng.

Nghe có vẻ lạ lùng nhưng Xkin-nơ và đội nghiên cứu của mình đã thành công trong việc huấn luyện những con chim bồ câu và chế tạo một mô hình thiết bị dẫn đường. Họ có thể chứng minh rằng, hệ thống này vừa có hiệu quả cao, lại vừa dễ sản xuất. Nhưng những chú bồ câu đó đã không bao giờ được cất cánh. Cả các nhà khoa học lẫn các vị tướng đều không đủ tin tưởng dự án để đưa thiết bị dẫn đường này vào một quả tên lửa và thử nghiệm. Thế là, “Dự án bồ câu” buộc phải dừng lại. Tuy nhiên, Xkin-nơ không bao giờ hết tâm huyết với dự án này. 15 năm sau khi chiến tranh kết thúc, ông vẫn tiếp tục bảo vệ dự án và đề xuất những con bồ câu có thể dẫn tên lửa tới tận… mặt trăng.

Pa-ri suýt bị hủy diệt

Tháng 8-1944, các đội quân Đồng minh đang tiến qua nước Pháp nhưng A.Hít-le vẫn quyết tâm không từ bỏ Pa-ri. Hắn chọn tướng Đi-ét-trích Vôn Sô-ti-dơ cố thủ thành phố này. Vôn Sô-ti-dơ nói: “Tôi nhận được lệnh biến Pa-ri thành một đống đổ nát và chiến đấu cho đến chết trên đống hoang tàn đó”.

Vôn Sô-ti-dơ liền ra lệnh đặt các khối thuốc nổ ở các thắng cảnh như Nhà thờ Đức Bà và điện In-va-li-dê. Ông ta bảo với các sĩ quan cấp dưới rằng, ông đã sẵn sàng thổi bay Khải hoàn môn và cả tháp Ép-phen.

Hít-le chọn Vôn Sô-ti-dơ vì lòng trung thành trước sau như một của ông. Nhưng vị tướng này lại rất băn khoăn vì mệnh lệnh đó. Ông không thể chịu đựng nổi việc đi vào lịch sử với tư cách là kẻ phá hủy Pa-ri hoa lệ. Thế nên, Vôn Sô-ti-dơ đưa ra một quyết định có thể khiến mình bị hành quyết. Ông bí mật gửi cho phe Đồng minh một thông điệp nhắn họ hãy tiến vào thành phố Pa-ri trong vòng 48 tiếng. Nếu không, ông sẽ buộc phải thi hành mệnh lệnh của Hít-le.

Quân Đồng minh có kế hoạch đi vòng qua Pa-ri, nhưng khi tướng Ô-ma Brát-li nhận được thông điệp, ông hành động một cách mau lẹ. Ông ra lệnh: “Sư đoàn Pháp cấp tốc tiến vào đó”.

Trong khi chờ đợi quân Đồng minh, Vôn Sô-ti-dơ lo sợ bị cách chức vì không tuân theo mệnh lệnh. Nhưng vị Đại sứ Đức là Ốt-tô A-bét đã giúp ông bằng cách gửi một bức điện tới Béc-lin phản đối “sự tàn bạo” của Vôn Sô-ti-dơ. Điều đó đã khiến cho Béc-lin tin rằng, Vôn Sô-ti-dơ là người cứng rắn và cho ông thêm vài ngày.

Trong hầm ngầm Béc-lin, Hít-le gào lên: “Có phải Pa-ri đang bốc cháy không?”. Nhờ có Vôn Sô-ti-dơ, kinh đô ánh sáng đã được cứu thoát.

Vôn Sô-ti-dơ đầu hàng sau một trận chiến ngắn ngủi, phớt lờ mệnh lệnh của Hít-le. Bộ tư lệnh tối cao Đức coi ông là kẻ phản bội và sau chiến tranh, Vôn Sô-ti-dơ bị các cựu chiến binh Đức tẩy chay.

VŨ DUY HOÀN