Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, Ninh Thuận là một trong những miền đất chịu tác động rất mạnh bởi biến đổi khí hậu toàn cầu. Điều này ảnh hưởng thế nào đến hoạt động của LLVT địa phương?

Đại tá Lưu Xuân Phương: Năm ngoái, Ninh Thuận trải qua một đợt khô hạn lịch sử, có nơi suốt hai năm không hề có mưa. Điều kiện thời tiết như vậy ảnh hưởng đến mọi hoạt động của con người, trong đó có hoạt động quân sự, quốc phòng. Tuy nhiên, đây không phải là hiện tượng đột xuất mà từ trước đến nay, Ninh Thuận luôn phải chịu đựng điều kiện thời tiết khắc nghiệt như vậy. Do đặc điểm vị trí địa lý và địa hình, khi gió mùa Tây Nam mang mưa vào Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên, thì hệ thống núi ở Tây Nguyên, Bình Thuận đã làm cho những cơn gió mùa Tây Nam này không đến được Ninh Thuận. Cho nên trong khi nó mang mưa đến các vùng khác nhưng vào Ninh Thuận thì biến thành khô hanh.

leftcenterrightdel
Đại tá Lưu Xuân Phương. 
Ninh Thuận là vùng đất cuối của dãy Trường Sơn với nhiều dãy núi hướng ra Biển Đông có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Tỉnh được bao bọc bởi 3 mặt núi với 3 dạng địa hình gồm núi, đồi gò bán sơn địa và đồng bằng ven biển. Đặc điểm khí hậu của tỉnh là khí hậu nhiệt đới xavan đến cận hoang mạc với đặc trưng khô nóng, gió nhiều, bốc hơi mạnh. Chính vì vậy thời tiết Ninh Thuận phân hóa thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Nhưng như đã nói, gần đây đã có những năm, ở một số vùng trong tỉnh mùa khô kéo dài suốt năm này sang năm khác. Nguồn nước ngọt cũng phân bổ không đều, tập trung chủ yếu ở khu vực phía bắc và trung tâm tỉnh. Nguồn nước ngầm trong địa bàn tỉnh chỉ bằng 1/3 mức bình quân cả nước.

Trong chỉ đạo, chỉ huy, quản lý hoạt động quân sự, quốc phòng, Bộ CHQS tỉnh đã có những điều chỉnh trên cơ sở chấp hành nghiêm mọi chủ trương, đường lối, quy định của Quân ủy Trung ương và Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 cũng như sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Ninh Thuận. Cán bộ, chiến sĩ trong LLVT tỉnh đã quen và có nhiều mô hình, cách làm sáng tạo nhằm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Đặc biệt là trong thử thách khắc nghiệt của thiên tai, tình nghĩa quân dân ngày càng thắm thiết. Năm ngoái, khi nhân dân các huyện ở vào giai đoạn cao điểm của nắng hạn, cán bộ, chiến sĩ thuộc Bộ CHQS tỉnh và LLVT Quân khu 5 đã có sáng kiến dùng xe chở máy lọc nước ngọt về cung cấp cho nhân dân những vùng kiệt nguồn nước. Hoạt động này được nhân dân cũng như cấp ủy, chính quyền địa phương ghi nhận, đánh giá cao. Hiện nay, trong công tác bảo đảm hằng năm, cấp trên cũng ưu tiên đáng kể cho chúng tôi nguồn lực xăng dầu, vật chất hậu cần để sẵn sàng giúp đỡ nhân dân những vùng bị khô hạn nặng. Trong gian nan, tình nghĩa quân dân càng thêm thắm thiết và đó là nguồn động lực quý để LLVT địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

PV: Vâng, chúng tôi cũng vừa có chuyến đi về thôn Khánh Tân, xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải. Người dân ở đây vẫn nhắc tên từng cán bộ, chiến sĩ cùng những chiếc xe chở nước ngọt đến cấp phát cho bà con trong những ngày đại hạn. Qua đó có thể thấy, LLVT tỉnh Ninh Thuận đã biến những khó khăn thành cơ hội xây dựng thế trận lòng dân?

Đại tá Lưu Xuân Phương: Ninh Thuận vẫn là tỉnh nghèo. Thu ngân sách địa phương năm vừa rồi mặc dù đã rất cố gắng thì cũng chỉ đạt khoảng 2.000 tỷ đồng. Khó khăn về kinh tế bao giờ cũng tác động rất lớn đến hoạt động của LLVT. Nhưng chúng tôi động viên cán bộ, chiến sĩ không so sánh với địa phương khác. Bằng sự nỗ lực, cố gắng, chúng tôi xác định mặc dù khó khăn như vậy nhưng với quyết tâm cao nhất thì vẫn có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị trung tâm. Có những nhiệm vụ rất khó vì cần nguồn lực đầu tư lớn, chẳng hạn xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện. Mặc dù các đồng chí lãnh đạo địa phương rất ủng hộ, nhưng trong điều kiện ngân sách của địa phương còn mức độ thì chúng tôi phải “liệu cơm gắp mắm” trong công tác tham mưu, chỉ đạo. Trước hết là tập trung tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trình độ kiến thức về quốc phòng an ninh cho các đối tượng, từ đó tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị trong tỉnh... Nhờ vậy, chúng tôi đã giành được những phần thưởng xứng đáng trong Phong trào Thi đua Quyết thắng của toàn quân và LLVT Quân khu 5. Tôi vẫn thường nói vui với các đồng chí cán bộ trong Bộ CHQS tỉnh, ngoài khó khăn về điều kiện kinh tế thì chúng ta có vô vàn thuận lợi, đó chính là nhìn ra cơ hội trong khó khăn.

PV: Đúng vậy, bên cạnh khó khăn về kinh tế thì Ninh Thuận nổi tiếng là một miền đất văn hóa đặc sắc?

Đại tá Lưu Xuân Phương: Ninh Thuận thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có vị trí địa lý quan trọng nằm trên ngã ba nối liền vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ với Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trong chuỗi liên kết các tỉnh duyên hải miền Trung. Hiện toàn tỉnh có hàng trăm di tích được thống kê, phân loại gồm đình, đền, chùa và 91 di tích khác, trong đó có rất nhiều di tích được xếp hạng cấp tỉnh và 14 di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Bên cạnh đó, Ninh Thuận là một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở Nhơn Hải của Ninh Thuận các mộ cổ chôn cùng với đồ đá, đồ sắt thuộc nền văn minh Sa Huỳnh cách đây khoảng 2.500 năm. Do vậy, nơi đây còn gìn giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hóa Chămpa, bao gồm chữ viết, dân ca, nghệ thuật múa, trang phục, nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc. Ở Ninh Thuận gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chăm xây dựng trong nhiều thế kỷ trước, tiêu biểu là cụm tháp Hòa Lai (Ba Tháp) xây dựng từ thế kỷ thứ 9, cụm tháp Po Klong Garai xây dựng ở thế kỷ 13 và cụm tháp Po Rome xây dựng vào thế kỷ 17. Ngoài các giá trị vật thể, văn hóa phi vật thể của người Chăm ở Ninh Thuận cũng rất phong phú với hơn 100 lễ hội diễn ra quanh năm, trong đó tiêu biểu phải kể đến lễ hội Ka-tê tổ chức ở tháp Chăm vào tháng 7 lịch Chăm hằng năm. Đây là lễ hội dân gian đặc sắc nhất trong kho tàng văn hóa của người Chăm, phản ánh sinh hoạt của cộng đồng người địa phương...

LLVT tỉnh Ninh Thuận hoạt động trên một vùng văn hóa đặc sắc như vậy nên có thuận lợi rất lớn. Chúng tôi luôn giáo dục cán bộ, chiến sĩ biết nâng niu, gìn giữ những nét văn hóa của quê hương, vừa xây dựng cơ quan, đơn vị thành những điểm sáng văn hóa trên địa bàn; vừa tích cực bảo tồn, tôn tạo, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Hằng năm, chúng tôi đều tổ chức các đợt công tác dân vận trọng điểm và đặc biệt chú trọng đến nội dung này.

PV: Nhắc đến văn hóa truyền thống, tôi lại nhớ đến bẫy đá Pi Năng Tắc của Ninh Thuận. Phải nói rằng, Ninh Thuận không chỉ là một địa phương giàu bản sắc văn hoá mà còn là một miền quê giàu truyền thống cách mạng?

Đại tá Lưu Xuân Phương: Như tôi đã khẳng định, truyền thống cách mạng là một tiềm lực tinh thần to lớn trong xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân. Bẫy đá Pi Năng Tắc là một minh chứng.

leftcenterrightdel
Bộ đội địa phương cung cấp nước ngọt cho người dân huyện Ninh Phước (Ninh Thuận) trong những ngày khô hạn lịch sử năm 2016. Ảnh: DUY THANH 
Anh hùng Pi Năng Tắc sinh năm 1910, trong một dòng họ lớn thuộc người Raglai, ông là niềm tự hào của người dân Ninh Thuận. Quê ông nay thuộc xã Phước Thành, huyện Bác Ái. Khi tham gia cách mạng, ông đã vận động cả gia đình tích cực tham gia kháng chiến. Trong 3 năm từ 1961-1963, chỉ riêng gia đình ông đã vót đ­ược 90.000 cây chông, ủng hộ kháng chiến 130 giạ bắp; nuôi giấu nhiều cán bộ cách mạng; vận động 18 thanh niên đi bộ đội. Bẫy đá mang tên ông là trận mai phục tiêu diệt quân địch bằng bẫy đá tại đèo Gia Túc vào ngày 10-4-1961. Trận đánh ấy đã đi vào lịch sử quân sự Việt Nam. Trong trận này, địch sử dụng một đại đội kết hợp với lực lượng dân vệ, càn từ Phước Hòa theo đường mòn độc đạo lên Phước Bình. Pi Năng Tắc đã tận dụng sự hiểm trở của đèo Gia Túc với độ dốc cao, phía dưới đèo là dòng sông Trương chảy xiết, bờ vực sâu, chỉ có đường mòn độc đạo. Theo sự chỉ đạo của Pi Năng Tắc, dân quân du kích chặt cây đan thành sạp treo lưng chừng vách núi, trên sạp chất đầy đá hộc, dưới đèo là hệ thống chông có tẩm thuốc độc, mang cung, bàn xoa được gài cắm dày đặc, dân quân du kích với trang bị mang cung, mũi tên, ná, giáo mác, gậy gộc phục kích ở hai phía. Khoảng 10 giờ ngày 10-8-1961, khi đại đội địch lọt vào trận địa mai phục, hiệu lệnh được phát ra, hàng trăm tấn đá từ các sạp đổ xuống như “trời long, đất lở” cùng với tên, ná, nỏ bay mịt mù của dân quân, du kích. Quân địch bạt vía, kinh hồn tháo chạy, giẫm đạp lên nhau, giẫm lên hầm chông, có tên lao xuống vực sâu, nhiều tên đạp phải bàn chông sắt…

Hiện nay, bẫy đá Pi Năng Tắc được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử kháng chiến; trở thành địa chỉ tham quan, giáo dục truyền thống lịch sử ý nghĩa cho thế hệ trẻ. Mặc cho thời gian đã lùi xa về quá khứ hơn 50 năm, dấu tích về những bẫy đá vẫn hiện hữu sinh động, minh chứng hùng hồn về nghệ thuật chiến tranh du kích, tinh thần thông minh, sáng tạo tuyệt vời và ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân Ninh Thuận.

PV: Vừa rồi đi thực tế ở nhiều cơ sở trong tỉnh, tôi nhận thấy hầu như xã nào cũng có chi bộ quân sự, hoạt động rất thực chất và hiệu quả. Đây là điều không phải địa phương nào cũng có được?

Đại tá Lưu Xuân Phương: Chúng tôi thực hiện nhất quán nguyên tắc nơi nào có hoạt động của LLVT nhân dân, nơi đó phải có sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy ở Ninh Thuận, 65/65 xã, phường, thị trấn đều có chi bộ quân sự. Trải qua một thời gian kiên trì xây dựng tổ chức, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, đến nay các chi bộ đã hoạt động ngày càng hiệu quả. Đây chính là hạt nhân chính trị, hạt nhân văn hóa-tinh thần trong hoạt động quân sự, quốc phòng ở cơ sở.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

TAM NGUYỄN - NHẤT ĐOÀN (thực hiện)