Lòng bồn chồn nhớ nhà, tôi vội vàng bấm máy về cho mẹ. Đứa em trai trả lời điện thoại: “Mẹ đi lên Trốc Trang cắt thuốc từ tinh mơ rồi”. Tôi hỏi việc gì gấp sao mà phải đi sớm vậy? Nó thở dài: “Thì đường lên Trốc Trang chị có lạ nữa đâu, trời lại mưa thế này. Mẹ đi sớm, nhưng chắc cũng phải chiều tối mới về được tới nhà…”.

Trốc Trang là tên gọi riêng của người dân quê tôi dành cho hai bản xa nhất của xã Thạch Lập, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Nghĩa nó là gì, gốc tích tên riêng đó từ đâu mà có, tôi cũng chẳng rõ. Chỉ biết người ta đã gọi thế từ lâu lắm rồi. Còn tên chính thức của hai bản là Đô Sơn và Đô Quăn. Đó là nơi cư trú, sinh sống của bà con dân tộc Mường. Huyện tôi là một huyện miền núi, nên khó khăn là đặc điểm chung. Vậy nhưng mỗi khi nghe nhắc đến hai cái tên Đô Sơn và Đô Quăn, nhất là với những người đã từng đến đó dù chỉ một lần, thì ai cũng không khỏi dâng trào một nỗi  trăn trở, day dứt trong lòng...

leftcenterrightdel
Niềm vui đến trường. Ảnh: Thương Sy 

Đô Sơn và Đô Quăn nằm trải dài theo một thung núi ở cuối xã Thạch Lập. Đây là hai bản nằm kề nhau, từng có biệt danh nhiều “không" nhất, trong nhiều năm nhất của huyện: Không đường, không điện, không trường, không trạm, không sóng điện thoại… Đến nay, những con số “không” ấy đã dần dần bớt đi. Thế nhưng, cái người dân ao ước nhất vẫn còn “không” trong đau đáu đợi chờ, đó là một con đường thỏa nỗi khao khát những bàn chân xuôi ngược, vào ra vì manh áo, bát cơm, con chữ…

Cách thị trấn Ngọc Lặc không đầy hai chục cây số, cách trung tâm Ủy ban nhân dân xã Thạch Lập chỉ gần chục cây số, thế nhưng cuộc sống người dân nơi đây gần như bị cô lập với cả huyện. Để lên tới hai bản này, phải mất vài giờ rảo chân trên con đường ngoằn ngoèo như rắn lượn, nhiều đoạn chỉ đặt lọt bàn chân. Những lối đi gọi là con đường ấy, chạy men lưng chừng đồi không mấy lúc được khô ráo vì lòng thung thường ẩm ướt sương mù. Mùa nắng đã thế, còn mùa mưa thì chỉ cần một trận là sẽ làm con đường lầy lội cả tuần, cả tháng. Sau mùa mưa kéo dài từ tháng tư đến tháng chín, sang tháng mười trở đi thì dù qua suốt một mùa đông hanh khô cũng chẳng kịp làm ráo con đường. Rồi ra Giêng đến tháng hai, tháng ba trời đất lại dầm dề mưa phùn ẩm ướt…

Tôi nhớ một lần lên Đô Sơn và Đô Quăn công tác, được anh Lý là Bí thư đoàn xã Thạch Lập dẫn đường, cứ trầy trật đi được một đoạn ngắn lại kiếm tảng đá ven đường ngồi thở. Anh Lý cười trêu: "Con gái nhà Mường gì mà trèo núi, lội bùn kém thế, thua cả bọn trẻ con kia kìa!". Vừa nói anh vừa chỉ lên phía trước, có vài ba em nhỏ lưng đeo cặp, quần xắn cao tới đùi, chân không dép đang dắt díu nhau lội qua đoạn lầy. Trong khi tôi còn mải thừ người nhìn theo từng bước chân nhỏ tội nghiệp, chưa kịp đáp lại thì anh Lý nói tiếp:  

 - Ngày hai buổi, bốn lần đi về thế đấy, chẳng mấy bữa đến trường về tới nhà mà người ngợm, quần áo không lấm láp, ướt rượt. Nhưng mà đi đến được lớp học cũng là vui rồi. Mấy năm nay may còn có trường khu lẻ cho bọn trẻ học gần hơn đấy, những năm trước về tận dưới khu trụ sở Ủy ban nhân dân xã, đường khốn khó thế này, chẳng mấy đứa đủ sức, đủ kiên trì theo hết cấp một, cấp hai… Thế nên trong bản, lứa thanh niên mười chín, hai mươi trở lên có nhiều cô cậu còn chưa biết chữ.

Tôi thượt mắt dõi theo những bóng nhỏ đang trầy trật trên đoạn đường trước mặt, vừa thấy phục vừa thấy thương. Lại ngạc nhiên nhìn thấy những vết bánh xe tải trên các ngọn đồi, lưng dốc, nơi các em vừa sấp ngửa trầy trượt đi qua. Tại sao lại có loại phương tiện trèo bò được lên đường này, mà chính những vết xe đó đã góp phần làm cho con đường ngày càng thêm tồi tệ. Anh Lý bảo: "Đúng, đó là thủ phạm mà cũng là cứu tinh đấy! May còn có những chiếc xe đó, người dân mới có cái mà ăn, mà mặc. Cả thị trấn huyện Ngọc Lặc này chỉ duy nhất mỗi gia đình cô Thanh ở Phố Một là có chiếc xe đặc biệt có thể bò được trên con đường này để chuyên chở hàng hóa, phân bón, hạt giống… lên cho bà con, rồi lại chở nông phẩm ngày mùa về xuôi tiêu thụ. Nếu không có chiếc xe đó, bà con cũng không đủ sức lội bộ xuống huyện vác từng bao phân, bao giống về bản. Đến mùa thu hoạch, lại càng không thể gánh từng thúng ngô, rổ sắn về xuôi để trao đổi...".

Lại nhớ ngày đến Đô Quăn, ở đâu cũng bắt gặp sự miệt mài, cun cút, chăm chỉ… mà sao ở đâu cái nghèo, cái khổ cũng hiện hữu trên từng mái tranh, trên từng gian nhà sàn trống hơ trống hoác… Rồi ở bất kỳ cuộc nói chuyện nào cũng bắt gặp nỗi khao khát bỏng cháy về một con đường. Vào thăm một ngôi nhà, gặp người đàn ông vừa ngồi ôm đứa con đang sốt vừa rầu rầu: “Chẳng biết bao giờ mới có con đường cho đỡ lo chị ạ. Con cái hay người làng ốm đau là nơm nớp. Bệnh nhẹ thì không sao, bệnh nguy cấp mà cõng, mà khiêng nhau trầy trật lần từng đoạn đường này, nhiều khi đem được người ra tới bệnh viện thì người khỏe cũng lăn ra ốm luôn…”.

Cũng trong lần lên công tác ấy, tôi tình cờ gặp cô Thanh, người ở Phố Một dưới thị trấn, chủ của chiếc xe leo núi huyền thoại vừa kể trên đây. Hỏi thăm cô về chuyện làm ăn, về những chuyến xe chở hàng trên con đường nguy hiểm này, cô thở dài ái ngại: “Thời buổi bây giờ, chẳng thiếu gì chỗ để làm ăn, thế nhưng không bỏ bà con được, gắn bó hơn mười năm rồi, như cái duyên nợ ấy. Lời lãi gì cho lắm đâu, chưa nói đường đi khó, tốn kém xăng dầu, sửa chữa liên tục, lại mất nhiều thời gian… Nhiều đêm về ngủ còn giật mình thon thót khi nghĩ đến những lưng đồi, lưng dốc, xe lúc nào cũng chênh vênh, ì ạch... Nhiều khi một bên bánh xe nằm dưới rãnh sâu, còn một bên bánh lại trườn kê trên tảng đá gồ ghề, bánh xe quay tít mà tiến không được, lùi không xong. Mình đứng nhìn mà thót tim nín thở. Tiền của đã đành, nhưng còn mạng người trên xe...".

Tôi mang bao câu chuyện, bao nhiêu nỗi niềm lần đường xuôi về phố huyện, đếm mỗi bước chân mình lại thấy nể phục những ngón chân trần bấm dốc, trèo đá đến chai cứng, sưng tấy mà thành quen. Qua được mỗi đoạn khó ngoái lại, lòng chạnh thương đau đáu những khát khao rất đỗi bình dị của bà con nơi này. “Từ đây đến năm 2020 là chúng em sẽ có đường đi thôi. Bác Chủ tịch nói huyện đang từng bước thực hiện dự án rồi!”. Câu nói như khoe, tràn đầy hy vọng của Trưởng thôn Đô Quăn lúc sắp chia tay cứ ám ảnh trong tôi. Mỗi bước chân tôi lội qua bùn lầy để về xuôi, ngỡ như cũng nhanh nhẹn và rắn rỏi hơn…

Ghi chép của TÚ ANH