Giai đoạn 1945-1960: Khởi đầu chặng đường mới
Giai đoạn này, Đảng và Nhà nước ta hướng đến việc xây dựng bộ máy nhà nước, huy động sức mạnh của dân tộc để bảo vệ nền độc lập và từng bước phát triển kinh tế sau chiến tranh. Thể chế lúc này bao gồm các chính sách của Đảng, các luật, sắc lệnh, nghị định của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa thể hiện rất rõ mục tiêu đoàn kết dân tộc, xây dựng Nhà nước Dân chủ cộng hòa và bảo đảm quyền của công dân.
Linh hồn của thể chế đất nước giai đoạn này là Hiến pháp năm 1946. Đây thực sự là nền tảng thể chế hoàn chỉnh cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong bản Hiến pháp, nền tảng cơ bản của thể chế được dựa trên cách tiếp cận thượng tôn quyền của người dân, bảo đảm đoàn kết dân tộc dựa trên sự tôn trọng quyền và lợi ích của nhân dân, không phân biệt nòi giống, tôn giáo, địa vị xã hội.
Nhiều chính sách kinh tế phù hợp cũng được ban hành và thực hiện góp phần tạo nên những thành tựu kinh tế trong bối cảnh kháng chiến, giúp đất nước vượt lên những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua. Trong số đó, các chính sách tạo nên thể chế kinh tế của đất nước thời kỳ này chính là tự do kinh doanh, buôn bán; chia lại ruộng đất công một cách công bằng, hợp lý; quy định giảm tô, giảm tức; điều hòa quyền lợi giữa tư sản và lao động, giữa địa chủ và nông dân...
Giai đoạn 1960-1985: Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Thể chế của đất nước giai đoạn 1960-1985, đặc biệt trong phân đoạn 1960-1976 là phức hợp của nhiều yếu tố chính trị, lịch sử. Đất nước chia làm hai miền với hai chế độ khác nhau về thể chế kinh tế: Thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở miền Bắc, thể chế kinh tế thị trường ở miền Nam. Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975, thể chế kinh tế theo mô hình kế hoạch tập trung được áp dụng trên cả nước.
Đặc trưng cơ bản của thể chế thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung là sự kiểm soát, điều hành các hoạt động sản xuất, thương mại, đầu tư công theo các chỉ tiêu kế hoạch mà thực chất là các mệnh lệnh hành chính, không dựa trên quy luật cung cầu. Toàn bộ hoạt động đầu tư đều dựa vào ngân sách, không có khái niệm đầu tư từ nước ngoài, trừ các nguồn vốn viện trợ.
Thể chế thời kỳ kế hoạch hóa tập trung có thể dễ dàng phân tích từ nội dung của Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980. Thể chế này hướng tới việc xóa bỏ kinh tế tư nhân, tiến tới một nền kinh tế gồm hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, quốc hữu hóa không bồi thường những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản (Điều 25 Hiến pháp năm 1980).
Cơ chế vận hành nền kinh tế là sự chỉ huy từ Trung ương bằng mệnh lệnh. (Điều 18 Hiến pháp năm 1980) dựa trên hai hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất là hình thức sở hữu của Nhà nước, tức là của toàn dân, sở hữu của hợp tác xã với vai trò lãnh đạo của kinh tế quốc doanh luôn được Nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên. Nhà nước giữ độc quyền về ngoại thương và mọi quan hệ kinh tế khác với nước ngoài.
Thể chế thời kỳ kế hoạch hóa tập trung phát huy được một số giá trị của nó trong điều kiện đất nước có chiến tranh, song lại có những cản trở rất lớn đối với sự phát triển kinh tế.
Giai đoạn 1985-2012: Sự chuyển mình của nền kinh tế
Giai đoạn này, thể chế của đất nước bắt đầu có những bước chuyển mình lịch sử từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường với chủ trương “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Những sự phá rào, cởi trói về chính sách, pháp luật cho các doanh nghiệp quốc doanh đã tạo ra một thể chế gần như lột xác so với thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Cốt lõi của thể chế kinh tế giai đoạn này là thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; cơ chế quản lý doanh nghiệp dựa trên chế độ hạch toán kinh doanh và tính tự chủ của doanh nghiệp. Linh hồn và nền tảng của thể chế kinh tế giai đoạn 1985-2012 là Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001. Từ việc giữ độc quyền kinh tế nhà nước trên mọi lĩnh vực, thể chế giai đoạn này chỉ duy trì vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân được thừa nhận và được tạo điều kiện phát triển không hạn chế. Thể chế kinh tế giai đoạn này đã được hoàn thiện nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế và đặc biệt là các yêu cầu của việc gia nhập các định chế thương mại, tài chính toàn cầu như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Chính điều đó đã giúp nền kinh tế đạt được những thành tựu quan trọng, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái; duy trì tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân tăng 7,5%/năm.
Giai đoạn 2012-2024: Sự phát triển bùng nổ
Thể chế kinh tế giai đoạn 2012-2024 được hoàn thiện mạnh mẽ với việc thông qua Cương lĩnh năm 1991 (bổ sung và phát triển) và việc ban hành Hiến pháp năm 2013. Nhiều tư duy kinh tế đột phá được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và hàng loạt các luật nền tảng của sự phát triển kinh tế. Pháp luật-yếu tố cốt lõi của thể chế-được hoàn thiện để bảo đảm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế sâu rộng vì mục tiêu phát triển bền vững. Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020; Luật Đầu tư công năm 2024; Luật Đấu thầu năm 2023; Luật Chứng khoán, Luật Quản lý thuế năm 201... đã tạo nền tảng pháp lý bền vững cho các hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư.
Việc tham gia các thỏa thuận đối tác chiến lược và toàn diện, ký các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt với quốc gia có trình độ phát triển cao như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Australia, Trung Quốc đã rộng mở thị trường, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu mà Việt Nam có tiềm năng. Một Việt Nam bùng nổ với những thành tựu phát triển kinh tế đáng kinh ngạc trong mắt cộng đồng quốc tế. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2024 đạt khoảng 405,5 tỷ USD, tăng 14,3% so với năm trước; quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2024 ước đạt 11.511,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 476,3 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2024 ước đạt 114 triệu đồng/người, tương đương 4.700USD, tăng 377USD so với năm 2023.
Kỷ nguyên mới: Thông điệp từ 80 năm độc lập
Ngày 19-8-2025, 250 công trình trọng điểm trong cả nước được khánh thành và khởi công xây dựng với tổng trị giá 1,28 triệu tỷ đồng đã tạo một sự chuyển động mạnh mẽ để đất nước cất cánh trong kỷ nguyên mới.
Đây là kỷ nguyên với những thách thức và cơ hội đang chờ đợi đất nước ở phía trước. Chuyển đổi số, các mô hình kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ đang dần khẳng định vị trí. Cách mạng công nghiệp 4.0 với các ứng dụng như chuỗi khối (Blockchain), dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence) trong quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp đòi hỏi những thay đổi toàn diện trong thể chế kinh tế.
Trên bình diện quốc tế, thế giới đang chứng kiến một cuộc chuyển dịch sâu sắc trong cấu trúc của toàn cầu hóa, tức là sự chuyển dịch từ mô hình hội nhập tự do sang định hướng có chọn lọc, nơi các yếu tố như an ninh kinh tế, tự chủ chuỗi cung ứng và tương thích pháp lý trở thành ưu tiên. Thương mại và đầu tư không còn đơn thuần dựa trên lợi thế chi phí, mà ngày càng bị dẫn dắt bởi quan hệ địa chính trị và độ tin cậy thể chế.
Trước những thách thức và cơ hội khi bước vào kỷ nguyên mới, chúng ta cần xây dựng một thể chế phát triển phù hợp và năng động, có khả năng phản ứng trước những biến đổi nhanh chóng trong đời sống kinh tế-xã hội của đất nước và quốc tế. Khẳng định này bắt nguồn từ vai trò to lớn của thể chế và những thành tựu vĩ đại mà đất nước đạt được trong 80 năm qua.
GS, TS LÊ HỒNG HẠNH, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam