Chả là, tôi cùng đoàn nhà báo vào Lâm ngư trường Sông Trẹm, Cà Mau dự hội thảo về bảo tồn, phát triển nghề khai thác mật ong rừng tràm. Đặc sản mật ong ở đây quý hơn những loại mật ong khác ở chỗ trong và có màu vàng như nước cam, đặc đến mức rót vào chai không cần phễu, hoàn toàn thiên nhiên, không pha trộn, để lâu thoải mái không mất mùi. Với diện tích 30.000ha, riêng rừng U Minh Hạ mỗi năm cung cấp khoảng 1.000 tấn mật ong. Giá trị kinh tế là rất đáng kể. Giờ đang đầu xuân, mùa hoa tràm nở rộ, cũng là đỉnh điểm của sản lượng và chất lượng mật trong năm.

Tên tuổi cụ trùm gắn với một phường hội đã có từ lâu đời ở rừng U Minh, gọi là đoàn Phong Ngạn. Các nhà nghiên cứu cho rằng nghề gác kèo ong ở đây hình thành sớm, từ thuở người Việt đặt chân đến khai hoang mở cõi. Cư dân sống giữa rừng tràm bạt ngàn phát hiện ra tập tính của loài ong là chỉ làm tổ ở những thân cây đổ nghiêng như kèo nhà, từ đó, nghề gác kèo ong ra đời. Thợ gác kèo ong không đi riêng lẻ mà theo từng đoàn để hỗ trợ nhau, có cái tên chung là Phong Ngạn. Hóa ra sau phát biểu của cụ trùm, cả hội nghị hơn 200 đại biểu mới lần đầu tiên biết tên một hội đoàn nghề ong bản địa đặc sắc như thế. Cuộc hội thảo có cả đại biểu quốc tế đều nhất trí rằng, đây là cách khai thác ong tự nhiên (loài ong rừng tràm có tên khoa học là Apis dorsata) tốt nhất, không làm tổn hại môi trường, cảnh quan. Chuyên gia Hà Lan Vincen còn nói chắc như đinh đóng cột rằng: Đoàn Phong Ngạn độc đáo cả về kỹ thuật và nghệ thuật khai thác ong, không có ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

leftcenterrightdel

Thu hoạch mật ong rừng tràm U Minh. Ảnh: AN MINH 

Xuân này, cụ trùm Ba Rựa vừa tròn tuổi 80, có hơn 60 năm gắn bó với đoàn Phong Ngạn. Hội thảo cả buổi sáng, đầu giờ chiều, cụ dẫn tôi về qua nhà mình ở ngay sát rừng tràm, cách lâm ngư trường bộ không xa. Bộ khung nhà cụ không khác mấy cái kèo ong. Nhà bán mái, cột kèo đều bằng gỗ tràm nguyên cây, lợp và thưng vách bằng lá dừa nước sơ sài, đồ đạc trong nhà cũng sơ sài, hầu như rỗng không. Ngồi nói chuyện được một lúc, tôi sốt sột muốn được thị sát ngay cái kèo ong thì cụ cười hiền mà bảo, thường bọn tui đi "ăn ong" vào buổi sáng, giờ thấy nhà báo đã cất công từ Hà Nội vào thì phá lệ. Cụ liền ra góc nhà lấy mấy thứ đồ nghề như con cúi, dao, thùng. Thế là tôi được theo chân cụ vào trảng rừng cách nhà không xa.

Vừa đi, cụ trùm vừa giảng giải thêm cho tôi biết về nghề đặt kèo ong. Nơi được chọn đặt kèo thường có thảm lau sậy tốt, nhưng phải thấp hơn ngọn tràm và phải có khoảng trống rộng, nhiều ánh sáng để ong định hướng đi tìm nhụy hoa. Gác kèo tốt nhất từ lúc mặt trời mọc đến 9 giờ sáng để ong định đúng hướng bay đến. Người giỏi nghề, sáng gác, chiều đã có ong về. Khi ong đã tụ đủ đàn, chỉ khoảng 20-25 ngày nếu bông tràm trổ tốt và chuyển sang màu cỏ úa là lúc tổ đã có mật. Thợ gác kèo cơm nước, khăn gói vào rừng để “ăn ong”. Biết cách chiều chuộng ong, một tổ mỗi năm có thể thu mật 3-4 lần, còn không sẽ chỉ được 1 lần thôi. Sơ sơ mỗi năm thợ đặt kèo có dăm bảy yến mật, bán được vài chục triệu đồng. Nghe cụ trùm nói, tôi chợt nghĩ, vậy thu nhập của đoàn viên đoàn Phong Ngạn khá, mà sao nhà cụ trùm trống trơn, chẳng sắm thứ đồ gì đáng giá vậy?

Cụ trùm dừng lại ở một trảng rừng thưa và chỉ tay về phía bụi cây bên đường, giờ tôi mới nhìn rõ tầng tầng lớp lớp ong bám vào một cây kèo nghiêng treo cái tổ lớn, bọng trĩu nặng hình vòng cung. Cụ bảo, kèo này đặt cách đây 5 tháng, hơi già, cũng sắp phân đàn. Rồi cụ nhanh tay rút con cúi giắt bên hông, bật hộp quẹt châm mồi. Khói trắng ngun ngút dưới bọng, đàn ong vỡ lả tả bay vọt lên cao, tụ đen ngọn tràm trên đầu. Phút chốc, bọng ong hình vòng cung hiện ra tinh khôi, trắng ngà, cụ chỉ giữa tổ là phần mật, cạnh là phần tàng nơi ong ở. Cụ lấy con dao nhỏ cắt dọc phần bọng, tổ này có khúc mật dài cắt thành hai đoạn, mỗi đoạn khoảng hơn gang tay. Một tay đỡ, tay kia cụ cắt ngang theo thân kèo. Bớt lại một phần tàng có màu đen, để chỗ cho ong tiếp tục sinh sống không tách đàn, xây lại nhà mới. Cụ bảo, tổ này bự, được bảy, tám lít. Tôi đứng sát bên cụ hít hà mùi thơm thơm ngầy ngậy cùng hương tràm quẩn quanh. Còn có mấy con ong non đẫm mật bò lổm ngổm trên cánh tay, bàn tay cụ. Cụ vui vẻ bảo, chỉ vài ngày là tổ mới lập xong, cuối xuân lại đến đây "ăn ong" tiếp.

Trên đường về cụ còn bảo, sắp tới ngày Ba mươi Tết, các thành viên đoàn Phong Ngạn ở mọi ngóc ngách vùng sình lầy U Minh sẽ tụ tập cả ở nhà cụ để mổ heo cúng rừng, chuẩn bị cho mùa "ăn ong" mới, thề sống chết có nhau, không ai được làm trái môn quy. Mỗi đoàn có từ 15 đến 30 đoàn viên, thường là người cùng dòng họ và cư dân trong thôn, ấp một vùng. Chỉ được gác kèo ở phần rừng của mình. Riêng cụ quê gốc Rạch Giá, nhưng về đây đã mấy chục năm nên coi như người vùng này. Mỗi khi gác, đoàn viên phải đăng ký ký hiệu với cụ trùm và khắc ký hiệu ấy vào cây kèo để tránh nhầm lẫn.

Chúng tôi trở về nhà khi mặt trời đã lặn sau rặng tràm. Một buổi chiều êm ả đáng nhớ. Tôi quyết định không về lâm ngư trường bộ ăn tối mà ngủ luôn lại với cụ trùm. Cụ tỏ ý rất vui khi biết tôi ở lại, bảo trước hết làm món nhậu bữa chiều. Cụ ra góc nhà nắm chài vắt vai, rảo bước một đoạn trên khoảng đất rộng mênh mông cây cỏ lúp xúp trước nhà. Cụ giang tay quăng ào chài xuống mặt hồ nước vàng đục, thưa thoáng, dềnh vài khóm lục bình. Kéo lên trĩu tay. Thuần một loài cá trắng tinh, đầu nhỏ, thân bằng hai đốt ngón tay, cụ bảo ở đây phần nhiều là cá linh non, quanh năm không khi nào hết cá, đến mùa nước nổi thì cá tràn về còn có nhiều loại nữa. Thôi thì nhà báo xài tạm thứ cá nhỏ này, thịt ngọt, xương mềm, nhắm với rượu ong non cũng đã lắm. 

Chung một chén đổi nhau, đó là cách ứng xử khi nhậu của dân miệt rừng U Minh. Rượu sóng sánh lưng chén, mùi thơm đặc trưng của rượu bốc lên, chưa uống đã thấy say say. Vào “chu kỳ” thứ ba, tôi mới hỏi vợ con cụ đi đâu mà giờ này chưa về? Cụ trùm bỗng sững lại nhìn tôi. Đôi mắt ươn ướt, không nói. Dù chưa đến lượt, bỗng cụ chủ động cầm chén ực luôn hơi nữa. Hẳn người khách vô tình là tôi đã vừa chạm vào nỗi đau u uẩn lâu nay vẫn giấu kín? Và cụ như vừa uống cả cái đau lòng ấy vào đau lòng mình. Chợt giọt nước mắt ứa ra trên khóe mắt già nua, lát sau, cụ mới nghẹn ngào kể: "Đầu bảy ba (1973), đang hòa đàm. Chúng mở rộng vùng tranh chấp lãnh thổ, nống ra ven thị xã Rạch Giá. Đốt nhà, giết trọi cả bà vợ và đứa con gái ba tuổi của tui trong hầm trú ẩn. Tui đang đi đặt kèo ong ở đây nên thoát chết". Nói xong, cụ lại cầm chai rót thêm rượu, uống tiếp một hơi, tôi định gàn mà không dám...

Khi rời Lâm ngư trường Sông Trẹm, anh giám đốc cho tôi biết thêm vài điều về cụ trùm. Sau ngày giải phóng, mặc dù mất vợ con khi mới tuổi ba nhăm, cụ vẫn sống một mình nơi cửa rừng. Mấy chục năm lặng lẽ cần mẫn với kèo ong. Tiền có được từ mật ong rừng tràm, năm nào cụ cũng đều đặn đóng góp vào các loại quỹ từ thiện ở đây và cả ở quê hương Rạch Giá. Đến nay, tổng cộng số tiền làm từ thiện đã lên đến hàng trăm triệu đồng. Cụ vẫn bảo, tui có hai quê. Được đóng góp chút xíu cho xã hội, cho con cháu hai quê cũng là niềm vui thường nhật của tui...

Ba năm sau ngày dự hội thảo.

Tôi có dịp trở lại Lâm ngư trường Sông Trẹm. Thật buồn khi nghe tin cụ trùm Ba Rựa đã qua đời trước đó một năm vì tuổi cao, sức yếu. Nhưng nghề gác kèo ong rừng tràm của cụ không mất, mà đang rất phát triển, trở thành một sản phẩm du lịch được các khu du lịch sinh thái ở Cà Mau tổ chức phục vụ khách trải nghiệm các công đoạn làm nghề, thưởng thức các sản phẩm từ ong. Và vui hơn nữa là nghề này đã được Nhà nước đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

PHẠM QUANG ĐẨU