Nâng cao chất lượng dân số là mục tiêu quan trọng

Việt Nam được thế giới đánh giá là điểm sáng về công tác dân số và đã được nhận giải thưởng về dân số của Liên hợp quốc năm 1999. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 (khóa XII) tháng 10-2017 đã xem xét, đánh giá về những cố gắng và nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình và đề ra định hướng trong tình hình mới. Nghị quyết số 21/NQ-TW ngày 25-10-2017 về công tác dân số trong tình hình mới đã được ban hành. Một trong những nội dung quan trọng trong nghị quyết là nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. Để thực hiện, nghị quyết đã đề ra 8 mục tiêu cụ thể cho năm 2030, trong đó có nhiều mục tiêu liên quan đến nâng cao chất lượng dân số Việt Nam, đặc biệt là mục tiêu cụ thể thứ 6: “Chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5cm, nữ đạt 157,5cm. Chỉ số phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á”. Trong diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu định hướng chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện là chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Đây là thời cơ rất lớn cho chương trình nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. Do vậy, để thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 về công tác dân số trong tình hình mới cần sớm hoạch định các giải pháp, chính sách, chiến lược và chương trình kế hoạch cụ thể.

Qua gần 25 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII), Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, nổi bật là: Khống chế thành công tốc độ gia tăng dân số, sớm đạt được trước 10 năm và hiện duy trì, ổn định ở mức sinh thay thế; cơ cấu dân số chuyển dịch tích cực, bước vào thời kỳ "cơ cấu dân số vàng" từ năm 2007 và dự kiến đạt đỉnh cao vào khoảng năm 2020-2030; cơ cấu dân số cũng đã chuyển sang giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, tuổi thọ trung bình tăng lên 73,4 tuổi (cao hơn các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người); chất lượng dân số dần được cải thiện… Tuy nhiên, chính sách hạn chế mức sinh kéo dài, rộng khắp cả nước cùng với quá trình chuyển đổi cơ cấu nhân khẩu học đã phát sinh những hệ lụy cần sớm được khắc phục, đòi hỏi phải có những đổi mới về công tác dân số để giải quyết toàn diện, đồng bộ và căn bản hơn các vấn đề về dân số.

Chỉ số phát triển con người của Việt Nam còn thấp

Chỉ số phát triển con người (HDI) là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh, đánh giá chất lượng dân số và so sánh quốc tế. Chỉ số HDI của Việt Nam còn thấp (xếp hạng 116/188 nước). Tức là ở thứ hạng trên của nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình. Chỉ số HDI của Việt Nam năm 2015 là 0,617. Tuy nhiên tiến bộ của Việt Nam là không đồng đều. “Tiến bộ chậm dần của Việt Nam trong thập kỷ qua đã kéo lùi sự tiến bộ phát triển con người khá nhanh của Việt Nam trước kia để ngày nay trở nên tụt hậu so với nhiều nước khác có cùng trình độ phát triển”-theo nhận định của Báo cáo phát triển con người năm 2015. Năm 1980, chỉ số HDI của Việt Nam vừa đủ cao hơn mức bình quân của khu vực Đông Á-Thái Bình Dương và nhóm các nước phát triển con người trung bình. Đến năm 1990, HDI của Việt Nam đã tụt lại so với khu vực, thấp hơn đến 8,5%. Khoảng cách được thu hẹp xuống 4,7% vào năm 2008, nhưng đến năm 2014 thì cách biệt trong chỉ số HDI của Việt Nam với khu vực châu Á và Thái Bình Dương đã tăng trở lại đến 10,2%.

leftcenterrightdel
Trẻ em người Mông ở Sa Pa (Lào Cai). Ảnh: NGỌC TÚ

Tầm vóc, thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện (hơn 30 năm qua, chiều cao của nam chỉ tăng 4,4cm và nữ tăng 3,4cm, thuộc số nước có chiều cao thấp nhất thế giới). Chiều cao trung bình của người dân Việt Nam so với chuẩn thế giới: Năm 2017, chiều cao trung bình của Việt Nam, nam là 165,7cm; nữ 153cm. Chiều cao trung bình của thế giới, nam là 176,7cm; nữ là 163,7cm. Năm 2016, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) từng báo động về chiều cao thấp hơn “chuẩn” thế giới của thanh niên Việt Nam. Tờ The New York Times từng thống kê chiều cao của một số quốc gia tại châu Á từ năm 1950 đến nay cho thấy trong vòng gần 7 thập kỷ qua, người Việt Nam cải thiện chiều cao ở mức quá thấp (cao lên trung bình 11cm ở nam giới, 2cm ở nữ giới). Trang Telegraph cũng thống kê, Việt Nam cùng với Indonesia, Philippines và Campuchia là các quốc gia châu Á lọt danh sách 10 quốc gia có chiều cao người dân thấp nhất thế giới.

Ngoài ra, chất lượng dân số Việt Nam còn nhiều thách thức khác,  như: Người ít có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng còn đẻ nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng dân số; tỷ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao; tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp so với nhiều nước (chênh lệch gần 10 năm); tỷ lệ nam nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, tỷ lệ tầm soát bệnh tật bẩm sinh ở phụ nữ mang thai còn thấp; tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống, đặc biệt ở nhóm các dân tộc thiểu số còn cao...

Cần chiến lược tổng thể

Để hoạch định các kế hoạch, giải pháp thực hiện chương trình nâng cao chất lượng dân số, trên thế giới và ở nhiều quốc gia thường nghiên cứu xây dựng các giải pháp theo vòng đời, tức là hoạch định các giải pháp cụ thể cho con người kể từ khi chuẩn bị sinh cho đến khi về già. Những giải pháp trước sinh như khám sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh... bảo đảm cho mọi đứa trẻ sinh ra đều bình thường (không mắc dị tật bẩm sinh). Sau đó là các giải pháp cho từng giai đoạn phát triển của con người. Đối với người già thì cần giải pháp tăng tuổi thọ bình quân, đặc biệt tăng tuổi thọ bình quân khỏe mạnh, giảm tỷ lệ các bệnh mạn tính, không lây nhiễm. Đây là một chiến lược tổng thể, cần sự chung tay tham gia của nhiều bộ, ngành, của toàn xã hội. Mặc dù vậy, tùy theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng giai đoạn, cần lựa chọn một số lĩnh vực ưu tiên để tập trung đầu tư nhằm đem lại hiệu quả cao, đặc biệt trong điều kiện của Việt Nam là một nước vừa thoát nghèo, thu nhập bình quân còn ở mức thấp trong số các nước có mức thu nhập trung bình.

Trong giai đoạn tới, Việt Nam cần tập trung vào một số giải pháp cụ thể và đồng bộ trong tình hình mới.

Trước tiên, cần chú trọng đến các vấn đề chẩn đoán trước sinh, sàng lọc sơ sinh, sàng lọc các bệnh lý về di truyền, mặc dù chúng ta mới chỉ chẩn đoán được một số bệnh lý di truyền qua kỹ thuật PGD để phát hiện những gen bệnh lý của phôi thai. Ngành y tế phải đặt ra mục tiêu cố gắng ngày càng chẩn đoán được nhiều bệnh lý di truyền trước khi phôi làm tổ và trước khi sinh, giúp bảo đảm chất lượng dân số tốt nhất.

Hỗ trợ sinh sản vô cùng quan trọng trong giai đoạn đầu tiên tạo ra đứa trẻ khỏe mạnh, bình thường, không bị bệnh lý, tật nguyền. Nhưng sau đó, để phát triển thể chất tốt, các gia đình phải có chế độ nuôi dưỡng hợp lý, bổ sung các chất dinh dưỡng hợp lý. Việc này đòi hỏi sự kết hợp giữa ngành y tế với giáo dục, với xã hội, với từng gia đình để vừa giúp phòng bệnh, chữa bệnh và thực hiện giáo dục toàn diện. Tự kỷ không chỉ do gen di truyền mà còn do cả yếu tố chăm sóc, giáo dục. Về cải thiện chất lượng sống, người Việt Nam chúng ta đang có cuộc sống khá hơn trước rất nhiều. Nhưng ngay cả những người giàu, cách sống của họ cũng chưa thật sự tốt. Do đó, phải tăng cường tư vấn cho từng đối tượng, từng lứa tuổi, từng người có bệnh lý để họ theo dõi chế độ ăn uống, tập thể dục, thuốc men, cách đề phòng các loại bệnh.

Ngoài ra cũng cần đẩy mạnh những giải pháp chung nhằm bảo đảm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế lồng ghép các yếu tố dân số trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế-xã hội của các cấp, các ngành. Đẩy mạnh nghiên cứu về dân số và phát triển, nhất là các vấn đề mới, trọng tâm về cơ cấu, chất lượng dân số và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực. Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, phát triển mạng lưới nghiên cứu về dân số và phát triển. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ, tạo thuận lợi cho người dân. Tích cực triển khai thực hiện đăng ký dân số và cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia thống nhất dùng chung đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội. Cung cấp số liệu đầy đủ, tin cậy và dự báo dân số chính xác phục vụ việc lồng ghép các yếu tố dân số trong xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội. Đổi mới nội dung tuyên truyền, vận động về công tác dân số và phát triển. Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách; phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dân số. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân số, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

TS NGUYỄN QUỐC ANH

Nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Thông tin và Dữ liệu, Tổng cục Dân số, Bộ Y tế