Cháu muốn trở thành người lính biên phòng

Đồn Biên phòng Si Ma Cai nằm cheo leo trên một rặng núi thuộc huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Mới đặt chân đến đây, chắc hẳn nhiều người sẽ ồ lên khi được chiêm ngưỡng cảnh núi non hùng vĩ. Con sông Chảy nằm dưới thung lũng phía trước cổng đồn là ranh giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Phóng xa tầm mắt là những nếp nhà nằm thấp thoáng trên triền đồi. Chúng tôi tìm đến nơi đây bởi câu chuyện tình người cảm động.

Ngày đầu đến đồn Si Ma Cai, tôi đã ấn tượng với bốn chiến sĩ “nhí” ở đơn vị. Gọi là chiến sĩ nhí vì các em còn ít tuổi nhưng rất ra dáng “chất” lính. Sáng cũng như chiều, ngày hai buổi các em được các anh bộ đội của đồn đưa, đón đến lớp. Trong bộ quân phục vừa như in, dường như các em rất hãnh diện với chúng bạn cùng trang lứa. Vì các em còn đang đi học, muốn gặp mặt, tôi phải đợi đến tối. Đã thành nếp, sau bữa cơm chiều, khi bộ đội tiếp tục thực hiện các chế độ trong ngày thì “chiến sĩ” nhí gồm: Lù Văn Hùng, Lù Seo Lử, Vàng Văn Thẻo, Vàng Văn Coi ngồi vào bàn học. Dẫn chúng tôi đến thăm các em, Đại úy Lý Seo Tỏa, Phó đồn trưởng cho biết: “Các em đều rất đáng thương, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn. Sau khi xin được chủ trương của cấp trên, đơn vị đã chủ động phối hợp với gia đình và chính quyền địa phương đón các em về nuôi dưỡng”. Từ xa, dưới ánh đèn điện, tôi quan sát thấy bốn cậu học trò đang chăm chú vào những trang vở. Theo kèm các em là Thiếu tá QNCN Phan Anh Đức. Thỉnh thoảng, khi có em thắc mắc, anh Đức dừng lại hướng dẫn làm toán hoặc bình giảng một đoạn văn. Tiếng anh Đức vừa nhẹ nhàng lại ân cần từng ly từng tí. Trò chuyện với chúng tôi, anh Đức kể: “Tôi ở đồn đã hơn 20 năm, từ khi nơi này còn là vùng đất hoang sơ. Cũng có hơn 10 năm làm giáo viên cắm bản nên tôi hiểu rõ tiếng nói, tâm lý, tính cách của người dân bản địa. Đối với các em, hiểu thấu gia cảnh nên tôi thương như con”.

leftcenterrightdel
Buổi học tại đơn vị của các "chiến sĩ" nhí ở Đồn Biên phòng Si Ma Cai, tháng 3 -2017. 
Hùng và Lử là hai anh em ruột, ở thôn Lù Dì Sán, xã Sán Chải, huyện Si Ma Cai. Năm 2007, khi Lử được mấy tháng tuổi thì bố là Lù Seo Chẩn bị ốm nặng, gia đình không có điều kiện thuốc men chạy chữa nên đã qua đời. Một thời gian sau khi chồng chết, mẹ của Hùng đi lấy chồng khác, nhưng điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên không thể đón các con về nuôi. Chỉ trong một thời gian ngắn, hai đứa trẻ thơ dại vừa mất bố, lại thiếu thốn tình yêu thương và chăm sóc của mẹ. Hùng và Lử phải sống cùng bà nội đã hơn 60 tuổi ở ngôi nhà xiêu vẹo, chênh vênh trên sườn núi cao giáp biên giới Việt-Trung. Được người dân địa phương giới thiệu hoàn cảnh của Hùng và Lử, anh Đức tìm đến nhà mấy lần nhưng không gặp. Rồi anh quyết tâm đợi đến khuya. Hơn 21 giờ, ba bà cháu mới lọ mọ trở về từ nương ngô, quần áo rách rưới, ướt sũng, mặt mũi nhọ nhem bùn đất, bợt bạt vì mỏi mệt. Khi mới gặp, cả ba bà cháu Hùng tỏ ra rất e dè, ít nói. Ngồi nói chuyện mãi không thấy mọi người đi ăn cơm, anh Đức hỏi thì mới biết nhà chỉ còn ít cơm nguội đã hẩm và ít rau rừng mới kiếm được nên bà nhịn để các cháu ăn. Những ngày sau đó, anh Đức năng đến thăm bà cháu Hùng hơn. Khi anh trình bày nguyện vọng đón hai cháu về đơn vị nuôi, bà của Hùng nghẹn ngào: “Tuổi tôi đã cao, muốn có các cháu ở bên cạnh để trông cậy lúc đau ốm, nhưng ở với tôi, tương lai các cháu bấp bênh, mù mịt. Vậy tôi nhờ cả vào các anh”.

Hoàn cảnh của Thẻo và Coi cũng khó khăn tương tự. Thẻo và Coi là anh em ruột, người dân tộc Thu Lao. Năm 2013, khi Coi 6 tuổi, mẹ em là Lèng Sí Chấn, sau một thời gian lâm bệnh hiểm nghèo đã qua đời, bố lại mất sức lao động, bị câm điếc bẩm sinh nên cả nhà bốn miệng ăn chỉ trông chờ vào sức lao động của bà nội tuổi đã gần 80. Nhớ lại những ngày đi thực tế, đón các em về đồn, giọng anh Đức nghèn nghẹn: “Là cán bộ dân vận, khi được người địa phương giới thiệu hoàn cảnh của các em, tôi rất thương cảm. Nhưng khi tận mắt chứng kiến, mọi điều khó khăn của các em vượt ngoài sức tưởng tượng của tôi”.

Nói chuyện về gia đình, vẻ mặt các em đều đượm buồn, mắt rưng rưng, tủi thân. Trong ký ức của Lử, em không nhớ rõ hình ảnh của cha và mẹ. Từ khi lớn lên, Lử luôn bị ám ảnh bởi những bữa đói, thiếu cơm liên miên. Lử lầm lũi theo anh, theo bà, khi thì cheo leo trên những nương ngô, khi thì tự chơi trong những hốc đá núi. Từ khi về đơn vị, cuộc sống của các em đã thay đổi rất nhiều. Điều quan trọng nhất là cuộc sống của các em đã đi vào nền nếp, các em đã biết tự tắm rửa, giặt quần áo, tập thể dục thể thao điều độ như bộ đội, được cắp sách tới trường như các bạn cùng trang lứa. Được biết, không chỉ nuôi các em ăn học, hằng tháng cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đóng góp tiền cho mỗi em 1 triệu đồng, làm quỹ tiết kiệm để lập nghiệp trong tương lai. Khi chúng tôi hỏi: “Các em mơ ước lớn lên sẽ làm gì?”. Hùng nhanh nhảu trả lời: “Em muốn trở thành chiến sĩ biên phòng như chú Đức, chú Tỏa để bảo vệ quê hương và giúp đỡ các em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn như chúng em”. Còn một chặng đường rất dài để các em hiện thực hóa được giấc mơ đó, nhưng chúng tôi tin tưởng, sau khi nhận được sự giúp đỡ của các chiến sĩ biên phòng, các em đã có ý thức trách nhiệm với cộng đồng xã hội.

Nâng bước em tới trường

Xã Bản Lầu là cửa ngõ của huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Những năm trước đây, an ninh trật tự ở Bản Lầu khá phức tạp, nhất là tình trạng xuất nhập cảnh trái phép, buôn lậu qua biên giới, tội phạm ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em… Trong một buổi chiều mưa mùa hạ, hoạt động buôn bán hàng nông sản của người dân hai nước vẫn diễn ra tấp nập. Thiếu tá Dương Trọng Nghĩa, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Bản Lầu cho biết, dù hoạt động giao thương buôn bán ở đây diễn ra khá sôi nổi nhưng chủ yếu vẫn là hàng nông sản, phụ thuộc nhiều vào thương lái nên đời sống của người dân vẫn rất khó khăn. Hậu quả của tệ nạn buôn bán ma túy, buôn bán phụ nữ tồn tại một thời gian dài, nhiều gia đình ly tán, bố mẹ đi tù, con cái bơ vơ, sống vất vưởng, khó khăn. Những năm gần đây, để giảm bớt gánh nặng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, Đồn Biên phòng Bản Lầu đã nhận đỡ đầu 8 em học sinh. Hằng tháng, bằng nguồn tiền đóng góp của cán bộ, chiến sĩ, đồn ủng hộ mỗi cháu 500 nghìn đồng/tháng.

Ở thôn Na Lốc, mọi người tỏ ra ái ngại khi nhắc đến hoàn cảnh của Cư Hiếu và Cư Phương. Hiện tại, bố của các em đang đi tù vì tội buôn bán người qua biên giới, mẹ bỏ đi, bặt tin tức mấy năm nay. Hiếu và Phương phải sống nhờ nhà chú ruột là Sùng Seo Tráng. Mới mười tuổi nhưng Cư Hiếu đã là lao động chính của gia đình. Hằng ngày ngoài việc đi học, Hiếu phải theo chú đi trồng chuối, trồng dứa. Vào vụ thu hoạch, Hiếu thường xuyên phải nghỉ học, gùi hàng chục ki-lô-gam quả trên lưng từ đồi xuống chân dốc đem bán. Thời gian làm việc của em cũng như các thành viên khác trong gia đình diễn ra từ sáng sớm đến tối khuya. Có lẽ do phải lao động vất vả từ sớm nên nhìn Hiếu nhỏ thó như đứa trẻ lớp một, lớp hai ở dưới xuôi. Thượng úy QNCN Lê Minh Phú, Phó đội trưởng Đội Vận động quần chúng đồn Bản Lầu cho biết: “Công tác trên địa bàn lâu năm nên tôi rất hiểu hoàn cảnh của Hiếu và Phương. Thời gian gần đây, do phải lao động nhiều nên việc học của Hiếu rất chểnh mảng. Phương cũng phải thường xuyên nghỉ học để ở nhà trông con cho chú. Tôi đã đề xuất với đồn hỗ trợ kinh phí cho các cháu đi học đến khi trưởng thành. Tôi cũng đến nhà nói chuyện với chú của Hiếu, phải cam kết để cháu đi học thì mới cấp tiền hỗ trợ”. Số tiền tuy không lớn nhưng rất có ý nghĩa về mặt tinh thần, động viên các em vượt lên hoàn cảnh.

Trò chuyện với chúng tôi, Hiếu khẽ thỏ thẻ: “Được các chú biên phòng giúp đỡ, bây giờ cháu được đi học đầy đủ, cơm ăn cũng không bị đói. Đầu năm học các chú còn may cho anh em cháu quần áo mới, mua cặp, sách vở mới nữa”.

Ngoài việc hỗ trợ tiền, cán bộ biên phòng đồn Bản Lầu còn kết hợp với nhà trường theo dõi, kèm cặp các cháu. Cô Phạm Thị Hương, giáo viên Trường THCS Na Lốc cho biết: “Nhà trường có bốn học sinh được đồn Bản Lầu hỗ trợ kinh phí hằng tháng theo Chương trình “Nâng bước em tới trường”. Các em đều có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nên ít nói, ít giao tiếp với mọi người xung quanh, dễ bị tủi thân. Nhà trường đã kết hợp với các chiến sĩ biên phòng và gia đình thường xuyên theo dõi, kèm cặp giúp đỡ các em. Đến nay, các em đã tiến bộ rõ rệt, học lực khá, giỏi. Quan trọng nhất là dần dần các em xóa được mặc cảm, hòa nhập tốt với mọi người xung quanh”.

Những xã biên giới của tỉnh Lào Cai nơi tôi đã đi qua, quả thực đời sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn, vất vả. Đối tượng chịu thiệt thòi nhiều nhất vẫn là những đứa trẻ. Bằng những việc làm thiết thực, xuất phát từ tấm lòng tương thân tương ái của các chiến sĩ biên phòng đã lan tỏa trong cộng đồng nhiều nghĩa cử cao đẹp, nhen lên tương lai tươi sáng hơn cho thế hệ trẻ trên chính mảnh đất này.

Bài và ảnh: PHẠM VĂN TUẤN