Việc làm cho 11 triệu lao động

Phóng viên (PV): Trong giai đoạn hội nhập quốc tế về mọi mặt, có rất nhiều thay đổi về đời sống xã hội thì thời cơ và thách thức đặt ra cho các làng nghề truyền thống là gì, thưa ông?

Ông Lưu Duy Dần: Tính đến cuối năm 2017, cả nước ta có 5.407 làng nghề đang hoạt động, trong đó có 1.748 làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ, thu hút khoảng 11 triệu lao động và mang lại kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,7 tỷ USD/năm. Vào thời điểm cao nhất, các làng nghề truyền thống của chúng ta giải quyết việc làm cho 13 triệu lao động, trong đó khoảng 30% là lao động thường xuyên, còn lại là lao động mang tính chất thời vụ. Điều quan trọng là nó đã bảo đảm cho cuộc sống người nghèo, người yếu thế trong xã hội. Đặc biệt những làng nghề truyền thống giúp gìn giữ được nếp sống văn hóa, đời sống ổn định và ngày một được nâng lên, hạn chế sự tiêu cực, tệ nạn xã hội, tạo cuộc sống lành mạnh.

leftcenterrightdel
Ông Lưu Duy Dần

Thuận lợi của chúng ta là có truyền thống, sự yêu nghề, lớp trẻ hiện nay cũng đang phát triển rất tốt, rất yêu thích, biết nắm bắt, sáng tạo rất nhanh. Thế nhưng, trong bối cảnh hiện nay, làng nghề đang có nhiều vấn đề đặt ra. Chúng ta chưa có một chính sách bài bản, cụ thể cho làng nghề Việt Nam để có hướng đi, giải quyết các vấn đề đang đặt ra về quy hoạch đất đai, vùng nguyên liệu, lao động… Hiện tại, làng nghề đang phụ thuộc một phần ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, một phần Bộ Công Thương, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, không có sự thống nhất về mặt quản lý Nhà nước.

Thứ hai, vì không có ai quy hoạch nên làng nghề hiện nay rất tự phát, chưa có sự liên kết với nhau nên không tạo được sức mạnh để đứng vững lâu dài. Nếu chúng ta cứ tách ra mạnh ai nấy làm, ăn cắp mẫu mã của nhau, không thể có hợp đồng lớn thì chúng ta sẽ thất bại ngay từ trên sân nhà. Ngoài chính sách, chúng ta phải huy động tiềm năng sẵn có, nhưng vấn đề đặt ra là hiểu biết khoa học và hiểu biết thông lệ quốc tế của ta còn hạn chế để tiếp cận rộng hơn các thị trường quốc tế. Ngay cách sản xuất của ta cũng không thể theo thói quen như trước được. Muốn xuất khẩu ra nước ngoài thì vấn đề hợp chuẩn là rất quan trọng, từ bảo đảm về môi trường, công nghệ, sử dụng con người… Ta phải hiểu luật của ta, hiểu cả luật quốc tế và hợp chuẩn của quốc tế đưa ra.

Không để mạnh ai nấy làm

PV: Thưa ông, chúng ta cần làm gì để làng nghề truyền thống đứng vững trước cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0?

Ông Lưu Duy Dần: Đặc trưng của làng nghề, nhất là các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống là sử dụng công nghệ truyền thống, vậy muốn nó trụ được trước cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 thì nhất thiết ta phải có cách đi phù hợp. Tức là, chúng ta phải có quy hoạch, từ quy mô sản xuất, đất đai, vùng nguyên liệu, đào tạo nhân lực… và phải đưa công nghệ vào các quá trình này. Nói một cách khác là chúng ta phải hiện đại hóa công nghệ truyền thống. Lâu nay chúng ta vẫn làm theo kiểu kinh nghiệm, dựa vào nghệ nhân với tính chất đơn chiếc. Cho nên phải hiện đại hóa công nghệ truyền thống và truyền thống hóa công nghệ hiện đại, bằng cách đưa hàm lượng văn hóa, hàm lượng công nghệ truyền thống của chúng ta vào công nghệ hiện đại. Tính chất thủ công thì không thể thoát ra được điều đó, tức là phải làm sao để làm giàu cái tình cảm, giàu cái bản sắc của dân tộc, màu sắc của mỗi vùng khác nhau.

Thứ hai là chúng ta phải có chính sách phù hợp cho cả vấn đề sản xuất và chính sách về con người. Chính sách ở đây là chính sách quy hoạch chung, chính sách về vùng nguyên liệu, đất đai, xử lý môi trường… Cùng với đó, việc đào tạo nhân lực phải trên cơ sở thực tế. Vùng nguyên liệu bây giờ đang mất dần, như vùng trồng dâu tằm không có thì làm sao phát triển được tơ tằm. Làm gốm từ đất cao lanh, đất sét nhưng đất cũng có vùng thôi, không thể vô tận được, nên phải có giải pháp cho những vấn đề này. Về lâu dài không thể cứ mạnh ai nấy làm thế này được. Chúng ta đang có hàng chục triệu lao động trong lĩnh vực này và hầu hết là lao động chân tay, lao động có tính chất của nghề truyền thống nên chúng ta phải tranh thủ trước sự ảnh hưởng của Cách mạng công nghiệp 4.0. Sắp tới, khi máy móc thay thế công nhân trong các nhà máy, khu công nghiệp, công nhân lại về với làng thì sẽ cần giải quyết việc làm cho nhiều lao động nữa.

leftcenterrightdel
Sản phẩm gốm truyền thống nước ta mẫu mã ngày càng đa dạng. Ảnh: DƯƠNG THU

Làng nghề có từ cả nghìn năm nay, chứ không phải bây giờ mới có nên cái gì thuộc về truyền thống thì chúng ta phải có quy hoạch cho truyền thống, để nó đi song song cùng với sự phát triển văn hóa nghệ thuật. Vì vậy, hiện nay vấn đề là làm thế nào để phát huy tài năng của các làng nghề bằng cách liên kết, kết nối lại, tạo thành tổng lực để làm sao ta bảo tồn được văn hóa.

Dấu ấn Bát Tràng: 8.000 tỷ đồng/năm

PV: Vậy trong phát triển làng nghề truyền thống hiện nay, chúng ta cần làm gì để không làm mất đi bản sắc, giá trị văn hóa?

Ông Lưu Duy Dần: Làng nghề truyền thống có bề dày lịch sử, trải dài cùng với sự phát triển, thăng trầm với lịch sử dân tộc. Vì vậy, đó là nơi lưu giữ, bảo tồn những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Các làng nghề truyền thống có một đặc điểm rất hay là có tổ nghề, có cốt cách riêng. Cho nên, dù có thăng trầm lịch sử như thế nào thì những làng nghề giàu bản sắc của ông cha không mất đi.

Ví dụ Bát Tràng là làng nghề đồ gốm truyền thống có từ nhiều thế kỷ nay, có ông tổ nghề, có những nghề phát sinh theo sau, có nghệ nhân… Vậy thì ta phải tổng hợp những yếu tố đó lại và tạo chỗ đứng cho nó bằng cách phát triển bằng chính nghề ông cha để lại, sống bằng nghề đó. Khi họ sống được tốt bằng nghề ông cha để lại thì họ sẽ tự giữ gìn nghề, giữ những bản sắc văn hóa gắn với làng nghề của mình. Bát Tràng đang là một trong số những làng nghề truyền thống sống tốt được bằng nghề như thế. Năm 2017, gốm Bát Tràng bán ra thị trường ước tính khoảng 8.000 tỷ đồng.

Tất nhiên, mỗi làng nghề đều có cách sống riêng, có sự giao lưu, phát sinh để tự phát triển. Điều quan trọng là chúng ta phải hướng dẫn cụ thể cho làng nghề để phát triển mà không mất đi bản sắc văn hóa truyền thống. Đó chính là vấn đề quy hoạch, vấn đề chính sách.

 PV: Theo ông, phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch có phải là hướng đi phù hợp trong giai đoạn hiện nay? Chúng ta phải chú ý đến những yếu tố gì trong việc này?

Ông Lưu Duy Dần: Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch đó là một tin vui. Hiện tại, UBND TP Hà Nội đang bắt đầu quy hoạch, trước mắt là hai làng nghề nổi tiếng Bát Tràng và Vạn Phúc thành làng nghề du lịch, Nhà nước sẽ đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, cốt là để gìn giữ lâu dài. Riêng Hà Nội là nơi tập trung làng nghề nhiều nhất cả nước. Trước đây khi Hà Nội chưa sáp nhập Hà Tây thì có 60 làng, sau khi sáp nhập có 1.350 làng nghề truyền thống, số nghệ nhân cũng đông nhất cả nước. Cả nước có 53 nhóm nghề thì Hà Nội cũng có đến 52 nhóm. Hà Nội đi đầu trong quy hoạch phát triển làng nghề là rất đúng. Cách làm của Hà Nội, nhất là UBND thành phố, Sở Công Thương với chính sách rất cụ thể, bài bản và có trách nhiệm, từ quy hoạch làng nghề, nghệ nhân ra sao, đầu tư thế nào? …

Gắn du lịch với làng nghề tạo ra một kết quả là vừa tạo trải nghiệm cho khách, vừa bán được hàng và vừa lĩnh hội được các dịch vụ mà bản thân các làng nghề cần phải có để hội nhập. Vấn đề đặt ra là ta nên có hướng dẫn cụ thể, sự đầu tư, quan tâm của cơ quan chức năng từ Nhà nước đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, chính quyền địa phương phải làm thực sự chứ không chỉ là chủ trương.

Cái khó đầu tiên ở đây là khả năng của hướng dẫn viên, cần phải có kiến thức rất nhiều, hiểu lịch sử, văn hóa truyền thống của làng nghề. Phải tổ chức được trải nghiệm cho khách với cách làm phong phú như tham gia làm gốm từ nặn cho đến nung và có sản phẩm mang về. Với các sản phẩm truyền thống, khi khách hàng hiểu được nguồn gốc, ý nghĩa, câu chuyện của sản phẩm thì họ mới thấy được giá trị và sẵn sàng mua. Phải kết hợp được việc tổ chức dịch vụ giới thiệu, thưởng thức ẩm thực. Phải có sự giao lưu văn hóa, hiểu biết văn hóa để có sự bắt nhịp với khách hàng và tạo được sản phẩm, dịch vụ với mẫu mã phù hợp với từng đối tượng khách hàng khác nhau về vùng miền, văn hóa, sở thích…

PV: Theo ông, mẫu mã có vai trò như thế nào với đầu ra sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở nước ta hiện nay?

Ông Lưu Duy Dần: Đầu ra của các làng nghề truyền thống là gì? Chính là phải giới thiệu được từ những sản phẩm nhỏ nhất của mình. Nếu như 80% sản phẩm các làng nghề là do khách đặt hàng thì vấn đề sáng tạo đang gặp khó. Trong giai đoạn hiện tại và cả tương lai, nếu mẫu mã không thay đổi thì làng nghề sẽ chết, nhưng thay đổi như thế nào thì quan trọng là vẫn phải có hướng dẫn. Bởi đã là sản phẩm của làng nghề truyền thống thì cần quan tâm đến yếu tố văn hóa, truyền thống và đặc trưng của từng làng nghề. Vì vậy, vừa rồi Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã kết hợp với Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp tổ chức Hội thảo khoa học “Mỹ thuật ứng dụng với thiết kế mẫu sản phẩm trong làng nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam”, nhằm tìm giải pháp cho vấn đề mẫu mã sản phẩm. Các chuyên gia, nghệ nhân từ các làng nghề truyền thống đều đã chỉ ra vai trò của mỹ thuật công nghiệp trong thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống và sự cần thiết của việc kết hợp này. Thực tế, những năm gần đây, vấn đề giá thành không còn là tiêu chí cạnh tranh hàng đầu của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà yêu cầu sản phẩm phải có mẫu mã đa dạng, phù hợp thị hiếu tiêu dùng, đặc biệt là cần có những thiết kế mang tính bền vững. Các sản phẩm của chúng ta đang tụt hậu trước sự cạnh tranh, phát triển của các thị trường mới như Ấn Độ, Trung Quốc… mà nếu không thay đổi thì chúng ta sẽ “chết”.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

THU HÒA (thực hiện)