Phóng viên (PV): Ông có thể cho biết, những lý do để ĐCTT Nam Bộ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại?

Soạn giả Nhâm Hùng: Chơi ĐCTT hay thưởng thức ĐCTT, đã trở thành nếp sinh hoạt thường nhật trong đời sống văn hóa đất phương Nam.

Theo sử sách, từ cuối thế kỷ 19, một số nhạc quan, nhạc sư ngoài triều đình Huế di cư vào vùng đất Đồng Nai-Cửu Long, mang theo sở trường về âm nhạc cung đình. Đồng thời, nhiều sĩ tử trong Nam ra kinh đô Huế học hành, thi cử cũng mang về ít nhiều vốn liếng ấy. Thế rồi, qua giao thoa văn hóa-từ âm nhạc cung đình Huế, đã hình thành nhạc lễ Nam Bộ, chủ yếu là khí nhạc, phục vụ việc tang, tế. Trên vùng đất mới, lần hồi nhạc lễ được bổ sung nhiều mặt: Sáng tác thêm bài bản, viết lời ca. Từ đó, càng phong phú về hơi điệu; mở rộng lối chơi cho cả người đờn, người ca.

Những nỗ lực trên đã tạo thành kiểu, cách sinh hoạt giao lưu nghệ thuật mới mẻ, hấp dẫn-dân gian quen gọi là ĐCTT. Gọi vậy, để chỉ người có biệt tài (tài tử): Ca hay, đờn giỏi! Không mấy chốc, các cuộc chơi ĐCTT ngày càng thu hút công chúng, lan tỏa khắp phố chợ, làng quê.

leftcenterrightdel
Soạn giả Nhâm Hùng

Vì sao ĐCTT nhanh chóng phát triển, trở thành nét đặc trưng văn hóa Nam Bộ? Là bởi, nó kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chất bác học và dân gian. Nói bác học, vì cội nguồn từ âm nhạc cung đình và trên nền tảng đó, nhạc tài tử ra đời cũng giữ được cái chất học thuật vốn có. Nói dân gian, là do để phù hợp với sở thích, thị hiếu công chúng, các bài bản tài tử được chỉnh lý, hay sáng tác mới có thêm chất liệu dân ca Nam Bộ như: Hò, lý, nói thơ… Cho nên, ĐCTT là tiếng lòng, là tâm tư, tình cảm của người phương Nam. Rõ ràng, sự kết hợp các tính chất bác học và dân gian đã làm nên bản sắc riêng của ĐCTT; không thể lẫn lộn với những bộ môn nghệ thuật khác.

Cũng chính từ giá trị ấy, UNESCO đã vinh danh ĐCTT là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2013.

PV: Thời gian qua, ĐCTT Nam Bộ đã được người dân gìn giữ, phát huy như thế nào, thưa ông?

Soạn giả Nhâm Hùng: Hơn một thế kỷ hình thành, phát triển, ĐCTT được phổ biến, trao truyền, kế thừa qua bao thế hệ. Lúc đầu người chơi-thưởng thức ĐCTT thường là hạng cao sang. Dần dần thu hút đủ mọi tầng lớp, từ nông dân, thợ thủ công, bạn ghe, thương hồ, người lao động... Trong xã hội, những ai được gọi là hào hoa, có chút hiểu biết đều nắm được ít nhiều bài bản tài tử: “3 Nam, 6 Bắc, 7 bài, 4 oán”. Các cuộc vui nào, khung cảnh sinh hoạt nào cũng có ĐCTT, qua các hình thức thể hiện.

Trước hết, là ĐCTT trong nội thất: Đây là môi trường thực hành ĐCTT gắn liền với các đám tiệc gia đình như đám cưới, đám giỗ, đám thôi nôi, đầy tháng… Gia chủ thường mời, rước các ban ĐCTT về chơi. Sẵn dịp, các tài tử sẽ so tài về ngón đờn, tiếng ca. Có khi cuộc chơi kéo dài đến thâu đêm, suốt sáng! Thực khách dự đám luôn là khán, thính giả trung thành.

Kế đến, người ta chơi ĐCTT nơi sân vườn hay xa biệt ngoài đồng vắng! Vào những đêm rằm, trăng sáng-để cùng bầu bạn tri kỷ tri âm, Ban ĐCTT xóm, ấp hội tụ về một địa điểm cùng trổ tài cho thỏa niềm đam mê, ôn luyện ngón đờn, bài ca cho đúng điệu, đúng nhịp.

Là vùng sông nước nên ĐCTT còn có mặt trên các ghe thương hồ vào lúc chiều tà, đêm tối khi chờ con nước. Kiểu cách sinh hoạt nghệ thuật “lưu động” độc đáo “rày đây mai đó”, khi ở đoạn sông dài, lúc thì trên chợ nổi đã thu hút các “tài tử” tứ xứ. Bài vọng cổ buồn, điệu Nam Xuân man mác nổi lên để người mộ điệu đỡ nhớ nhà, nhớ quê. Có lẽ từ bối cảnh này, bài vọng cổ “Tình anh bán chiếu” của soạn giả lừng danh Nghệ sĩ Nhân dân Viễn Châu đã ra đời, trở thành bài ca bất hủ đối với người mộ điệu ĐCTT- nghệ thuật cải lương.

Thế rồi, không gian thực hành ĐCTT ngày càng mở rộng, thích nghi nhiều môi trường xã hội, nghề nghiệp. Tiếng đờn, tiếng ca tài tử vẫn có thể vang lên từ cái chòi chăn vịt, cho tới nhà hàng cao sang. Ngay trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước, ĐCTT đủ góp mặt như một loại vũ khí đánh địch, trong các buổi trình diễn văn nghệ xung kích, phát thanh tuyên truyền hoặc tại các buổi lễ mừng công...

Ngày nay, ĐCTT còn được phát huy, góp mặt trong các tour du lịch; trên sân khấu lễ hội và trên sóng phát thanh-truyền hình. Đáng kể là các tỉnh, thành phố ở Nam Bộ đều tổ chức liên hoan, hội thi ĐCTT hằng năm để phát hiện, bồi dưỡng tài năng mới.

Có thể nói, qua trao truyền nghề từ thế hệ này đến thế hệ khác đã được tiếp thu, kế thừa truyền thống âm nhạc của cha ông. Những “lò” đào tạo gia đình vẫn là trụ cột, môi trường căn bản nhất để chăm bồi những tài tử. Nhờ vậy, phong trào vẫn được duy trì và phát triển.

PV: Trong sự phát triển của xã hội hiện đại, ĐCTT liệu có bị mai một hoặc biến thể không, thưa ông?

Soạn giả Nhâm Hùng: Kể từ khi được UNESCO vinh danh, ngành văn hóa các địa phương đều nỗ lực tìm hướng bảo tồn, phát huy bộ môn nghệ thuật này. Trong đó, Festival Đờn ca tài tử mang tầm quốc gia được tổ chức lần lượt tại các tỉnh Bạc Liêu, Bình Dương… Hằng năm, hầu hết các tỉnh Nam Bộ cũng đều tổ chức liên hoan, hội thi ĐCTT; các trường nghệ thuật, hệ thống trung tâm văn hóa đều tổ chức các lớp tập huấn về đờn-ca. Đến Đồng bằng sông Cửu Long, vào các khu du lịch nhà vườn, hầu hết đều có ĐCTT. Về Cần Thơ, xuống các du thuyền, lúc nào cũng rộn rã tiếng đờn ca…

Nhìn toàn diện, sức sống của ĐCTT luôn mãnh liệt. Môi trường thực hành ĐCTT ngày càng mở rộng, phần nào thỏa mãn được niềm đam mê của giới mộ điệu. Tuy nhiên, tìm hiểu kỹ bên trong vẫn bộc lộ nhiều cái chưa được, như: Môi trường thực hành ĐCTT ngày càng kém hấp dẫn, thưa dần sự xuất hiện các tài tử có nghề. Có hội thi, thí sinh đông hơn khán giả. Vào nhà vườn, xuống du thuyền để thưởng thức ĐCTT nhưng nhiều du khách thất vọng vì chỉ được nghe vọng cổ hoặc tân nhạc.

Theo quy ước, biên chế dàn nhạc tài tử phải có từ 3 đến 4 nhạc cụ, nhưng thực tế qua khảo sát hiện nay, hầu hết chỉ một cây ghi ta phím lõm, khá lắm có thêm cây đờn sến… Sự thiếu vắng nhạc cụ, giảm sút các tài tử, cộng với lối chơi ĐCTT “lai” cải lương, khiến giá trị gốc ngày càng phai nhạt, cho thấy nguy cơ mai một là có thật. Do đó, để ĐCTT được bảo tồn, hòa nhập vào đời sống hiện đại, cần nghiên cứu điều chỉnh về nghệ thuật và phương thức, môi trường thực hành.

leftcenterrightdel
Soạn giả Nhâm Hùng ký tặng sách cho bạn đọc. Ảnh: NGUYỄN BÁ

Nhiều năm qua, bản thân bộ môn nghệ thuật này đã có sự điều chỉnh. Nếu thời xưa, phải chơi đúng theo 20 bài bản tổ, mỗi bài 4-5 lớp, 5-7 chục câu thì sang thời hiện đại các nghệ thuật chỉ chọn chơi 1 lớp. Cũng như bài vọng cổ từ 20 câu, rút dần chỉ còn 4 câu (1-2), (5-6) hoặc ít hơn. Nhờ sự điều chỉnh này, cuộc chơi tài tử gọn hơn nhưng vẫn toát lên được giá trị tiêu biểu. Bởi tốc độ cuộc sống ngày càng nhanh, không ai có thời gian thưởng thức trọn một chương trình dài chỉ có đờn-ca hàng giờ, hay nghe một bài bản đến 15-20 phút.

Để tránh nguy cơ mai một, biến dạng các giá trị gốc rất cần giữ gìn lối chơi, ngón đờn, cách ca đúng chất tài tử  truyền thống theo nguyên tắc, quy ước của các bậc tiền bối đề ra: “Đờn không tô điểm, phóng túng; ca không luyến láy, tùy tiện. Phải tôn trọng thang âm, điều thức”... 

PV: Theo ông, để phát huy và phát triển bền vững ĐCTT, ngành văn hóa cũng như người dân cần phải làm gì?

Soạn giả Nhâm Hùng: Sau khi được UNESCO vinh danh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đề ra Chương trình hành động quốc gia về “Bảo vệ nghệ thuật ĐCTT (2014-2020)”. Sau đó, 21 tỉnh, thành phố Nam Bộ cũng có đề án tương tự. Thiết nghĩ, về cơ sở pháp lý không có gì phải bàn nhiều. Vấn đề quan trọng nhất là ngành văn hóa các cấp phải có giải pháp căn cơ, khả thi và có những bước đi mới mang tính đột phá, sáng tạo. Nên xác định cái gì phải bảo tồn, phát huy; kể cả cái gì cần phát triển! Đặc biệt, quan tâm nghiên cứu, giải quyết cho các vấn đề:

Trong quảng bá, phải giới thiệu được giá trị, bản sắc, nét độc đáo của ĐCTT. Tại các cuộc chơi ĐCTT ở nhà vườn du lịch, nghệ nhân vừa thực hành, vừa nên thuyết minh về các bài bản giúp người thưởng thức, nhất là giới trẻ thấm thía, nhận ra cái hay của ĐCTT.

Trong đào tạo, hết sức chú ý các “lò” truyền nghề gia đình. Nhà nước  có chính sách ưu đãi, hỗ trợ kinh phí. Bởi đây là “trung tâm đào tạo” gốc, từng hun đúc nên nhiều thế hệ nghệ nhân, tài tử nổi tiếng. Trong công tác vinh danh, không chỉ đối với nghệ nhân, mà cho cả “lò” gia đình hay những “mạnh thường quân” có nhiều công lao bảo tồn, phát huy nghệ thuật ĐCTT.

Việc tổ chức các cuộc liên hoan, hội thi phải đổi mới đi vào thực chất, tránh tình trạng khi tổ chức thì rầm rộ, sau đó mọi việc lại trầm lắng. Nên chăng, bớt đi hình thức thi cử theo kiểu ban giám khảo ngồi chấm điểm. Hãy để các ban ĐCTT; các nghệ nhân tự so tài cao thấp, qua kiểu cách “đấu đờn”, “đấu ca”. Có vậy, mới tạo không khí hào hứng, vừa giúp các nghệ nhân có dịp bảo lưu, trao đổi, nâng cao ngón nghề, vừa tạo được sức hấp dẫn, lôi kéo công chúng đến với cuộc chơi ĐCTT.

Đáng mừng, thời gian qua ĐCTT đã lên sân khấu, lên sóng truyền hình, vô nhà vườn du lịch... Thế nhưng, việc chuyển đổi này còn khiên cưỡng. Bởi cái gốc truyền thống của ĐCTT là thính phòng, chủ yếu để nghe. Bây giờ đem cái chỉ để nghe, gắn với phương tiện để nhìn thì phải nghiên cứu thế nào cho phù hợp, đáp ứng được thị hiếu thẩm mỹ của công chúng. Muốn vậy, ngành văn hóa và các đài truyền hình phải xây dựng được mô hình mới vừa để nghe vừa để xem, qua các hình thức: “ĐCTT trên sân khấu”, “ĐCTT trên sóng truyền hình” và “ĐCTT trong nhà vườn du lịch”. Tôi cho rằng, đây cũng là một cách phát triển đưa ĐCTT bắt nhịp với xu thế hiện đại, mà vẫn giữ được tính chất truyền thống!

Nói chung, ngành văn hóa các cấp, các ngành chức năng khác, còn nhiều việc phải làm và làm phải có hiệu quả, đối với nhiệm vụ “bảo tồn; phát huy luôn cả phát triển nghệ thuật ĐCTT”; để loại hình nghệ thuật, bản sắc văn hóa đặc trưng vùng đất Nam Bộ luôn có sức sống bền vững!

NGUYỄN BÁ HIÊN (thực hiện)