Phóng viên (PV): Thưa PGS, gần đây, trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã dùng cụm từ “những ông quan xa hoa” để gọi tên những cán bộ, công chức có thu nhập bất minh, sống xa hoa, lãng phí. Còn một bộ phận người dân lâu nay vẫn dùng từ “quan chức” thay cho từ “cán bộ”. PGS nghĩ gì về cách dùng từ này?

PGS, TS Hoàng Kim Ngọc: Trước khi đưa ra những nhận xét, đánh giá về cách dùng những từ này thì chúng ta nên trở lại truy tìm nghĩa từ điển của chúng trong “Từ điển tiếng Việt”, GS Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, năm 2000.

Quan là từ chỉ những viên chức có quyền hành trong bộ máy Nhà nước phong kiến thực dân: Quan văn, quan tham, thăng quan, tiền vào cửa quan như than vào lò, quan phụ mẫu. Quan lại là danh từ, cách nói khái quát hàng ngũ quan lại (tr.799). Xa hoa là tính từ chỉ sự quá sang trọng và có tính chất phô trương hoang phí. Ví dụ: Cuộc sống xa hoa, trụy lạc. Ăn mặc xa hoa (tr.1138)...

Cụm từ “những ông quan xa hoa” là để chỉ những người có chức có quyền trong bộ máy Nhà nước phong kiến thực dân có cuộc sống ăn chơi trụy lạc, tiêu xài phô trương, hoang phí. Và khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng dùng cụm từ này để chỉ một số vị lãnh đạo thời nay thì có nghĩa là họ đã không còn xác định mình là đày tớ, là công bộc, là người phục vụ lợi ích của nhân dân như Bác Hồ yêu cầu mà đã thực sự biến chất, có thu nhập bất minh, sống xa hoa, trác táng, lãng phí. Tức là họ đã trở thành những tên quan tham lam, có cuộc sống vương giả bên cạnh những cảnh đời còn nhiều khó nhọc. Họ thực sự đáng ghét và đáng sợ trong con mắt của dân chúng như ca dao đã phản ánh:

- Thừa quan rồi mới đến dân

Thừa nha môn, mới đến phần đò đưa.

- Trông lên cửu bệ trùng trùng,

Những là gấm vóc tía hồng nguy nga.

Nhìn về đồng ruộng bao la,

Cùng đinh đóng khố phơi da mình trần

- Ban ngày quan lớn như thần

Ban đêm quan lớn tần mần như ma

Hai tay quan lớn gian tà

Tay xoa cát phẩm tay sà hạ chiêu

PGS, TS Hoàng Kim Ngọc.

Hoặc họ cũng giống như ông quan tham thời thực dân phong kiến: Nghị Hách, một nhân vật kinh khiếp trong tiểu thuyết “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng với những hành động bỉ ổi điển hình của quan chức thời đó, như: Lưu manh, gian hùng, xảo trá, lừa thầy phản bạn, trác táng, mua quan bán tước, mưu cầu danh lợi...

Khi nhân dân dùng cụm từ “quan chức” thay cho từ “cán bộ” thì cũng có nghĩa là trong đầu họ luôn ấn tượng không tốt về những vị lãnh đạo này. Bởi từ quan chức là chỉ người có chức vụ cao trong bộ máy Nhà nước của chế độ phong kiến hoặc tư bản chứ không còn cái nghĩa của từ cán bộ tràn đầy sự kính trọng của đồng bào dành cho những người hết mình với cách mạng, với công việc, sống liêm khiết, gương mẫu, thanh sạch hoặc có hai nghĩa như trong từ điển chỉ ra sau đây nữa.

Cán bộ là: “1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước. Cán bộ Nhà nước. Cán bộ khoa học. Cán bộ chính trị. 2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ. Đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ. Họp cán bộ và công nhân nhà máy. Làm cán bộ Đoàn Thanh niên”... “Từ điển tiếng Việt”, GS Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, năm 2000, tr.109.

PV: Một thời, trong cộng đồng chúng ta vẫn dùng từ “đồng chí”, nhưng giờ đây ít được nhắc đến hoặc nhắc đến với hàm nghĩa khác. Theo PGS, điều đó cảnh báo điều gì?

PGS, TS Hoàng Kim Ngọc: Đúng, bây giờ nhiều người dùng chữ “đồng chí” nhưng không còn cái nghĩa cao quý như trong từ điển chỉ ra nữa. Từ “đồng chí” có 3 nghĩa như sau: “1. Người cùng chí hướng chính trị, trong quan hệ với nhau. Ví dụ: Lấy tình đồng chí mà đối với nhau. 2. Từ dùng trong Đảng Cộng sản để gọi đảng viên. Ví dụ: Chị ấy đã là đồng chí rồi. 3. Từ dùng trong xưng hô để gọi một người với tư cách là đảng viên Đảng Cộng sản, đoàn viên một đoàn thể cách mạng hoặc công dân một nước xã hội chủ nghĩa. Ví dụ: Đồng chí bí thư chi bộ, Đồng chí Nguyễn Văn A. Một đồng chí chuyên gia Liên Xô. Tôi sẽ giúp đồng chí (“Từ điển Tiếng Việt”, GS Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, năm 2000, tr. 342).

Là một người được đào tạo về ngôn ngữ và văn học nên tôi cũng quan tâm đến số phận của một số từ ngữ bị thay đổi theo thời gian do tác động của sự nhận thức lại hoặc quy luật ngữ âm nào đó. Có rất nhiều từ ngày nay đã được dùng không phải như nghĩa vốn có trước đây nữa, trong đó có từ “đồng chí”. Cách đây mấy năm, tôi có đọc một bài viết của tác giả Ngô Kiên, tôi rất tâm đắc và hoàn toàn đồng quan điểm với anh ấy khi bàn về sự thay đổi trong cách dùng của từ “đồng chí”.

Trước đây, từ “đồng chí” trở thành từ xưng hô khá phổ biến và thường gắn với sự trân trọng, gần gũi, thân mật, tình cảm… Và không thể phủ nhận có một thời, từ “đồng chí” trở thành một đề tài, thành nhân vật trung tâm để ngợi ca, phản ánh tình cảm gắn bó máu thịt, thiêng liêng của những con người mang lý tưởng cao đẹp trong văn học nghệ thuật Việt Nam với một vị thế khá đặc biệt: Súng bên súng, đầu sát bên đầu/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ/ Đồng chí!... (Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu); Đồng chí nứ vui vui/ Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ/ Đồng chí mô nhớ nữa/ Kể chuyện Bình-Trị-Thiên/ Cho bầy tôi nghe ví/ Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí (Bài thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên); Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí/ Dắt nhau đi, cho đến sáng mai nay/ Anh đón em về, xuân cũng đến trong tay! (“Bài ca mùa xuân 1961” của Tố Hữu);…

Chồng tôi công tác trong một cơ quan Đảng, có lần tôi hỏi anh ấy là: Anh thấy từ “đồng chí” bây giờ thường được dùng khi nào, có gì thay đổi không? Anh ấy đã trả lời đại ý là: Bây giờ có một sự thật khá đau lòng là ý nghĩa của từ “đồng chí” đã không còn được như xưa nữa. Bình thường, trong giao tiếp hằng ngày, chẳng thấy mấy người dùng từ “đồng chí”. Càng thân mật thì càng xưng hô suồng sã “mày, tao, chi, tớ”. Thậm chí anh ấy còn cho rằng có một số người chỉ những lúc căng thẳng, mâu thuẫn, “có vấn đề” hoặc chỉ trong các cuộc họp nghiêm túc, lúc lôi nhau ra kiểm điểm, phê bình, khi không ưa nhau thì lúc ấy người ta mới dùng từ “đồng chí”.

Phải chăng sự khác nhau trong cách dùng hai tiếng “đồng chí” ngày trước và ngày nay đã ít nhiều phản ánh phần nào mối quan hệ giữa ngôn ngữ và đời sống. “Thân phận” của từ “đồng chí” hình như đã không song hành cùng sự lớn mạnh về số lượng đảng viên, với chiều dài thời gian thành lập Đảng. Bây giờ, nhiều đảng viên chân chính còn ngượng khi được gọi là “đồng chí” với “một bộ phận không nhỏ” đảng viên thoái hóa, biến chất, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, chạy theo lợi ích nhóm, cá nhân chủ nghĩa!

Phải chăng, sự thay đổi trong cách dùng từ “đồng chí” đã phần nào phản ánh sự giảm sút về lý tưởng, về niềm tin, tình cảm giữa một “bộ phận không nhỏ” đảng viên với Đảng, đảng viên với đảng viên, đảng viên với quần chúng nhân dân.

Phải chăng, khi tư cách đảng viên, đoàn viên chỉ còn là cái vỏ, cái mác bề ngoài thì từ “đồng chí” vì thế cũng chỉ được xưng hô với nhau như là hai tiếng vô hồn, vô cảm. Công cuộc đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí do Đảng ta lãnh đạo hiện nay chính là nỗ lực để từ “đồng chí” trở lại với ý nghĩa tốt đẹp như nó vốn có.

PV: Theo PGS, làm thế nào để xây dựng một hệ thống ngôn ngữ mới trong sáng, lành mạnh trong đời sống văn hóa chính trị ở nước ta hiện nay?

PGS, TS Hoàng Kim Ngọc: Đây là một câu hỏi quá khó vì nó có tính chất vĩ mô. Người đủ thẩm quyền trả lời phải là người lãnh đạo cao cấp trong lĩnh vực chính trị và ngôn ngữ, chứ không phải là một người bình thường chỉ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy ngôn ngữ như tôi. Tuy nhiên, nếu anh đã hỏi thì tôi xin mạo muội trả lời như sau:

Thực ra không có khái niệm Hệ thống ngôn ngữ mới hay Hệ thống ngôn ngữ cũ mà chỉ có Hệ thống ngôn ngữ, trong đó có Hệ thống từ vựng mới. Để giữ gìn sự trong sáng, chuẩn mực của các hệ thống từ vựng văn hóa chính trị thì chúng ta cần nhanh chóng xúc tiến ban hành Luật Ngôn ngữ. Ý tưởng làm Luật Ngôn ngữ đã có cách đây vài chục năm nhưng vẫn chưa thực hiện được. Việc làm này cần sự chỉ đạo của Chính phủ, cơ quan Nhà nước và sự hợp tác của các nhà chuyên môn. Luật Ngôn ngữ cũng là một cách để điều hành sự phát triển của ngôn ngữ đi đúng hướng nhằm phát huy chức năng của ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất.

Thiếu Luật Ngôn ngữ có tính chất quốc gia thì sẽ nảy sinh những hệ lụy khiến xã hội hoang mang, lo lắng như đã từng xảy ra với đề án cải cách tiếng Việt mà PGS, TS Bùi Hiền đề xuất.

Chúng ta đều biết rằng một trong những cách để cho ngôn ngữ học phát triển là có những từ chuẩn của thời đại này là chệch chuẩn của thời đại trước, chệch chuẩn của thời đại này có thể trở thành chuẩn của thời đại sau. Nhưng nếu một thể chế chính trị muốn ổn định thì những thuật ngữ chính trị cũng cần phải được dùng theo một nghĩa ổn định nhất, cần được ưu tiên chuẩn hóa đầu tiên và khi dùng không được phép thay đổi nội hàm của nó, phải dùng đúng hoàn cảnh giao tiếp.

PV: Trân trọng cảm ơn PGS về cuộc trao đổi thú vị này!

HỒNG HẢI (thực hiện)