Công việc của ông chẳng đơn giản chút nào bởi sản xuất ra những bộ phim về chiến tranh vừa khó ăn khách vừa đòi hỏi chi phí cao. Vậy mà những tác phẩm ông làm về đề tài này lên tới con số hàng chục: Hai người ở lại trung đoàn, Chị Sáu Kiên Giang, Chuyện ông thần nước, Cửa ngõ, Hồn biển, Dòng sông quê ngoại... Chính kinh nghiệm của một diễn viên đã giúp ông trở thành đạo diễn rất có nghề. Ông đã tự tìm tòi cách làm khói lửa làm sao cho hiệu quả, an toàn mà ít tốn kém. Ông còn tự trang bị cả một kho đủ mọi thứ: máy nổ, quần áo, giày dép, mũ của bộ đội, của lính Pháp, lính Mỹ...

PV: Vì sao ông lại chọn đề tài truyền thống cách mạng, một đề tài thuộc loại khó khăn đối với bất cứ đạo diễn nào?

Đạo diễn Trần Vịnh: Xuất phát điểm của tôi là được đào tạo trong quân đội. Tôi là sinh viên Trường Nghệ thuật Quân đội khóa I, Khoa Kịch nói. Sau khi ra trường, tôi về đoàn Văn công quân giải phóng Trị Thiên-Huế từ 1968 đến 1974. Từ 1974, tôi về Đoàn Kịch nói Tổng cục Chính trị đến năm 1984. Sau đó tôi về phát hành phim Trung ương. Bộ phim đầu tiên tôi làm đạo diễn là bộ phim đề tài chiến tranh - “Bến nước” 2 tập ở Đồng Tháp, năm 1989. Cho đến nay, tôi đã làm 49 bộ phim, gồm hơn 300 tập, nhận được 17 giải thưởng quốc gia và 4 giải thưởng của Bộ Quốc phòng, trong đó có danh hiệu đáng quý: “Người làm phim chiến tranh nhiều nhất Việt Nam”.

Quan niệm của tôi về làm phim chiến tranh là: Nếu coi đó là món nợ chiến tranh thì không phải mà chính là tôi sinh ra và lớn lên trong quân đội, tôi có được như ngày nay là nhờ những năm tháng ở quân đội. Trong những năm tháng chiến tranh, tôi gặp được tất cả các cảnh ngộ của chiến sĩ và nhiều chiến sĩ đã hy sinh ngay trên tay tôi. Thậm chí, có chiến sĩ vừa xem chúng tôi biểu diễn xong, hai giờ sau đã hy sinh. Tất cả những chứng kiến đó khiến tôi thấy có trách nhiệm phải nói về họ.

Khi làm phim “Đối mặt” ở Quảng Trị, tôi đã nói thế này: “Tôi làm phim chiến tranh là để kể lại một câu chuyện cổ tích cho các cháu nó nghe, cho thế hệ sau biết cha ông mình đã chiến đấu như thế nào, để cho những người đương thời tự chiêm nghiệm lại mình, để những cựu chiến binh sống lại với quá khứ của mình. Và một phần nữa, để cho bọn tham nhũng thấy rằng, còn lá cờ bay trên bầu trời Tổ quốc, với bao xương máu đã phải đổ ra, thì ăn ít thôi, phá ít thôi”.

Tôi nguyện, còn sống, còn làm phim thì chỉ làm phim về đề tài truyền thống. Hiện nay tôi đã ký hợp đồng tháng 9 và 10 quay 25 tập “Giọt nước mắt nàng Út” nói về cuộc khởi nghĩa Trà Bồng (Kịch bản: Thiếu tướng, Nhà văn Chí Trung, Hãng phim truyện Việt Nam). Sau đó, tôi làm tiếp phần 2 “Món nợ miền Đông” cho Hãng phim Truyền hình Việt Nam. Thứ ba là làm phim “Huyền thoại mường Trời” 25 tập, về phong trào cách mạng ở vùng Tây Bắc, về những người tù nhà tù Sơn La gây dựng cơ sở cách mạng, và người dân Tây Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành chính quyền, chiến đấu giành lại độc lập, tự do, rồi giải phóng Điện Biên. Tiếp đó sẽ là một phần 30 tập phim “Đại hoàng đế Quang Trung”.

PV: Là đạo diễn lão luyện đối với đề tài truyền thống cách mạng, theo ông khó khăn lớn nhất khi làm dòng phim này?

Đạo diễn Trần Vịnh: Hiện nay, làm phim chiến tranh vô cùng khó khăn. Trước đây, khi mới hòa bình còn “xin” được. Giờ tất cả phải mua và ký hợp đồng. Ví dụ, khi làm phim “Giọt nước mắt nàng Út”, tôi phải tái tạo toàn bộ bối cảnh của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng năm 1959 vô cùng tốn kém. Nhưng tôi được mệnh danh là người làm phim nhanh nhất vì tôi đã tự sắm sửa đồ cho mình từ năm 1989 đến giờ. Hiện trong kho của tôi có hàng nghìn bộ quần áo các loại. Trang phục quân ngụy, quân Pháp, quân Mỹ, lính khố xanh, khố đỏ tôi đều có cả. Về bộ đội, tôi có trang phục từ thời “chín năm” đến thời những năm 60, 70 của thế kỷ trước và cả hiện nay. Hải, lục, không quân cũng tự sắm. Vì thế, tôi đã giải quyết được phần căn bản về trang phục, đạo cụ.

Hiện nay, ta quá chú trọng về phim giải trí, quá chú trọng làm phim để câu khách, để câu quảng cáo. Trong khi, phim chiến tranh không thể có quảng cáo như phim “chân dài” được. Tuy nhiên, nếu như Nhà nước không chú trọng làm phim về đề tài truyền thống, đề tài cách mạng, giáo dục đạo đức, thì sẽ phải trả cái giá rất đắt và rất gần. Giờ nhìn ra ngoài đời, người ta sống với nhau một cách vô cảm và nhiều khi không cần nghĩ tới quá khứ, đặc biệt là thanh niên. Đây không phải là việc của vài cá nhân, mà là việc của Đảng, Nhà nước phải chăm lo, giáo dục truyền thống.

Khát vọng của tôi là thành lập được một hãng phim Cựu chiến binh và tôi sẽ hiến tặng toàn bộ kho trang phục, đạo cụ cho hãng phim đó.

Đạo diễn Trần Vịnh

PV: Ngoài yếu tố kinh phí, để cho ra đời những tác phẩm điện ảnh về đề tài truyền thống cách mạng hay, theo ông, người đạo diễn còn cần yếu tố gì?

Đạo diễn Trần Vịnh: Trước hết, làm phim về chiến tranh thì phải hiểu chiến tranh và phải có văn hóa đọc. Vì thế, phim làm về đề tài chiến tranh, truyền thống cách mạng đối với đạo diễn trẻ rất khó khăn. Thứ nhất, họ không hiểu, thứ hai không chịu học, chịu đọc.

Làm đề tài truyền thống, phải hiểu người cách mạng nghĩ cái gì chứ không phải là làm cái thân xác không. Mỗi người lính, trong mỗi cuộc chiến, đều có cái riêng biệt. Phải tìm ra cái riêng biệt ấy. Vì thế, nói thật, làm về đề tài chiến tranh cách mạng, vấn đề đầu tiên không phải là kỹ thuật, kỹ xảo, mà là trình độ hiểu biết. Tôi lấy ví dụ, cậu Đỗ Đức Thành là một người làm phim khá. Cậu ấy làm “Dòng sông phẳng lặng” rất hay nhưng lại lạm dụng quá nhiều kỹ xảo. Vì thế, tôi nói với Thành thế này: “Cậu làm phim chiến tranh là rất tốt nhưng cậu quá thi vị hóa. Cái đặc thù của chiến tranh là sự khốc liệt, gian khổ chứ không thể mặt hoa da phấn”.

Làm phim chiến tranh, ngoài việc hiểu, còn phải làm rất thật, thật từ trong ý nghĩ. Trong khi, khai thác cái thật ấy trong chiến tranh là vô cùng khó khăn. Vì thế, khi làm phim, tôi phải chăm sóc vẻ ngoài của diễn viên rất kỹ. Cái phương pháp hóa trang của tôi là bùn, đất, là mồ hôi…

PV: Ngoài cái danh là người làm phim chiến tranh nhiều nhất, ông còn được công chúng biết đến là người tìm ra nhiều gương mặt diễn viên triển vọng. Vì sao ông không có “thói quen” sử dụng những diễn viên đã lành nghề?

Đạo diễn Trần Vịnh: Khi làm phim đề tài truyền thống, tôi không thích những gương mặt “chai”. Nhiều người nói do tôi sợ kinh phí cao nhưng không phải. Quan điểm của tôi là chọn đúng vai và không được quen mặt với khán giả. Bởi vì, ví dụ, đóng vai một người cán bộ cách mạng ở vùng núi xa xôi thì Quyền Linh không thể đóng. Phải chọn diễn viên có nét riêng biệt và phải của đúng vùng miền ấy. Tôi thường dùng diễn viên nghiệp dư. Tôi có thể diễn và dạy diễn. Tôi chỉ cần diễn viên không tự ái, chịu nghe lời là có thể làm diễn viên.

Tất nhiên, đạo diễn làm với diễn viên chưa có nghề là vô cùng vất vả, phải dạy từ cách nói, cách đi. Tuy nhiên, khi vào diễn được rồi thì anh đạo diễn sẽ được hưởng cái “hồn”. Còn diễn viên chuyên nghiệp rồi thì có cái lợi là đạo diễn bảo làm được ngay nhưng đồng thời họ lại không có cuộc sống, không thổi được hồn vào và diễn như thợ, buồn không buồn từ trong tâm can, cười chỉ cười từ cổ họng ra. Tôi không thích thế!

Trong phim “Giọt nước mắt nàng Út”, tôi chọn hầu hết là diễn viên miền Trung. Cô diễn viên chính vào vai người Co thì tôi chọn người Co thật. Vì cái tóc người Co xoăn, cái mắt cũng khác lắm, đưa cô người mẫu miền xuôi vào là hỏng hẳn. “Chân dài” có thể đẹp với khán giả chứ không đẹp với tôi.

Tôi thường tìm những gương mặt mới. Diễn viên dù có giỏi mấy cũng chỉ đi đóng với tôi hai phim là thôi. Hoặc đi làm phim thứ 3 thì phải hóa trang khác hẳn, rồi người Nam đưa ra thành người Bắc, người Bắc đưa vào thành người Nam. Tôi có nói với các NSND, NSƯT thế này: “Các anh là NSND, NSƯT với Nhà nước. Còn với tôi, các anh là diễn viên. Tôi cần nhân vật chứ không cần danh của các anh. Đạo diễn mới tạo ra sao chứ không sao nào với đạo diễn cả. Đạo diễn là sao. Tất cả các sao khác là diễn viên cả”.

PV: Trong các phim đề tài chiến tranh của nước ngoài, đặc biệt là Hollywood, rất nhiều các kỹ xảo được sử dụng nhằm làm nổi bật sự tàn khốc của chiến tranh. Trong khi, ở Việt Nam, về mặt kỹ xảo còn nhiều hạn chế. Hiện trạng ấy ảnh hưởng như thế nào đối với chất lượng phim, thưa ông?

Đạo diễn Trần Vịnh: Thứ nhất, làm phim phải có tiền, có kỹ thuật, có phương tiện kỹ thuật. Trong khi, cả ba thứ ấy, mình đều thiếu. Tiền thì chưa đáng một phần nghìn của thế giới, phương tiện kỹ thuật thì không thể nào so với ngay cả Hàn Quốc. Tôi từng đi làm phim với Hàn Quốc. Khi cần nổ ngực, họ có sẵn cái túi cài trong, chỉ cần ấn nút là vỡ tung ra, rách áo, máu chảy. Chúng ta không có phương tiện ấy, cũng không có tiền để mua những phương tiện ấy. Trong khi, làm thật thì rất dễ tai nạn.

Kinh phí để làm một tập phim bình thường của mình chỉ khoảng 100 triệu đồng, trong khi một bộ phim như “Titanic” là 300 triệu USD, phim “Người Mỹ trầm lặng” là 50 triệu USD. Gấp bao nhiêu lần? Giờ tôi chỉ dám trả cho diễn viên tiền ăn 50.000 đồng/ngày là đã lo sốt vó lên rồi. Tôi từng nói thẳng tại Đại hội Điện ảnh là không một phim nào là tôi không xin tiền địa phương. Lấy được 70 triệu đồng của Nhà nước để làm một tập phim thì làm sao đủ? Phải xin ăn, xin ở, xin thêm kinh phí của địa phương thì mới làm được. Cái khó của chúng ta là tiền và phương tiện kỹ thuật.

Nhà nước muốn có phim hay thì phải có tiền, có phương tiện kỹ thuật. Đến bây giờ, báo động rồi, những người làm âm thanh, khói lửa chuyên nghiệp bỏ hết rồi, chỉ còn những người nghiệp dư. Chúng tôi thường nói: “Bao giờ cho đến ngày xưa?”. Bao giờ làm phim chỉn chu như ngày xưa. Ngày xưa, người ta viết kịch bản bằng tâm trí. Người ta viết vì người ta phải viết. Còn bây giờ, tác giả là: Bao nhiêu tiền? Vì thế, tôi phải tự tổ chức viết kịch bản, mời tác giả đi thực địa, rồi về mới viết được. Ví dụ, với phim “Giọt nước mắt nàng Út”, tôi phải mời nhà văn Chí Trung đi Trà Bồng thực tế rồi mới viết kịch bản. Hay “Vùng ven một thời con gái” phải “bắt” Chu Lai đi Bình Dương một tuần tìm hiểu thực tế, gặp các nhân vật rồi mới viết. Vì thế, những phim của tôi đọng lại được là vì tôi tự tổ chức kịch bản.

Đạo diễn có giỏi giời mà kịch bản dở thì cũng chịu. Vì thế, việc đầu tiên phải chú ý tới khâu kịch bản.

PV: Phim chiến tranh thường tốn nhiều tâm huyết nhưng khi ra với công chúng lại không được đón nhận nhiều như những phim “chân dài”. Vì sao, thưa ông?

Đạo diễn Trần Vịnh: Lỗi này không phải của công chúng, mà là lỗi của người quản lý - những người coi kinh doanh là quan trọng hơn. Các anh quá ham quảng cáo nên chỉ chú trọng phim “chân dài”. Ở nguyên nhân khác, những phim nhựa được đầu tư nhiều tiền như: “Giải phóng Sài Gòn”, “Đừng đốt”, “Nhìn ra biển lớn”… nhưng mang ra rạp thì không thể “đánh lại” với phim Mỹ. Lẽ ra, bỏ ra 13-17 tỷ đồng để làm phim, thì phải bỏ thêm 13-17 tỷ đồng nữa để nhân bản đem đi chiếu lưu động cho dân xem. Đây là cái lỗi của những người truyền bá.

PV: Xin cảm ơn ông vì những chia sẻ với bạn đọc Báo Quân đội nhân dân cuối tuần!

Huy Quân thực hiện