Phóng viên (PV): ANNL vẫn được coi là vấn đề toàn cầu có ý nghĩa quan trọng. Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề này đang được nhìn nhận như thế nào, thưa ông?

PGS, TS Bùi Quang Tuấn: Nếu khái niệm truyền thống là "có đủ năng lượng và với giá rẻ" thì theo khái niệm hiện đại, ANNL phải được xem xét thêm trên hai chiều cạnh nữa là năng lực chống chịu và chủ động năng lượng.

Năng lực chống chịu cần phải được chú trọng vì trước các cú sốc địa chính trị như cuộc khủng hoảng tại khu vực Trung Đông hiện nay đang làm đình trệ tuyến đường biển qua eo biển Hormuz là nơi có khoảng 20% lượng dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu đi qua. Cú sốc này đã đẩy giá dầu tăng hơn 140%. Tình hình này đẩy lạm phát lên cao và làm tổn hại nền kinh tế. Chính vì vậy, thế giới đang chuyển hướng sang các nguồn năng lượng nội địa mà cụ thể là năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân. Năng lượng tái tạo không chỉ là bảo vệ môi trường mà còn là tấm khiên kinh tế tốt để chống chịu với các cú sốc địa chính trị như hiện nay.

Chủ động năng lượng là phải bảo đảm dự trữ năng lượng tốt. Đặc biệt, trong bối cảnh các ngành công nghiệp mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI)... đang đẩy nhu cầu điện toàn cầu tăng nhanh. Một quốc gia nếu không có hệ thống dự trữ năng lượng đủ mạnh thì sẽ không bảo đảm đủ điện cho nền kinh tế vận hành, trong đó có cả điện cho sinh hoạt. Vì vậy, bảo đảm ANNL là không để thiếu điện cho sản xuất và sinh hoạt. ANNL là phải đạt được mục tiêu định lượng cứng được đặt ra như phải nâng mức dự trữ xăng dầu quốc gia đạt tương đương 90 ngày nhập.

leftcenterrightdel
PGS, TS Bùi Quang Tuấn.

Ngoài ra, ANNL còn phải chủ động hơn trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng bằng việc phát triển năng lượng tái tạo cũng như yêu cầu hệ thống lưới điện truyền tải phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn và tiến tới phải đạt tiêu chuẩn thông minh, ứng dụng được thành tựu công nghệ.

Như vậy, chủ động ANNL trong bối cảnh mới là phải đạt được các chỉ tiêu dự trữ, chỉ tiêu công suất, bảo đảm tiêu chuẩn lưới điện, tỷ lệ tự chủ năng lượng tái tạo.

PV: Việc bảo đảm ANNL có ý nghĩa như thế nào tới sự phát triển của một quốc gia, thưa ông?

PGS, TS Bùi Quang Tuấn: ANNL chính là "huyết mạch" của nền kinh tế. Việc bảo đảm ANNL không chỉ đơn thuần là giữ cho mạng lưới điện hoạt động, mà mang ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của một quốc gia trên 3 phương diện trọng yếu sau:

Thứ nhất, bảo vệ trực tiếp tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) và chuỗi sản xuất công nghiệp. Thiếu hụt năng lượng sẽ lập tức làm đứt gãy sản xuất và gây thiệt hại kinh tế khổng lồ. Lấy ví dụ tại Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính chỉ riêng các đợt mất điện tại miền Bắc vào tháng 5 và tháng 6-2023 đã gây thiệt hại kinh tế khoảng 1,4 tỷ USD, tương đương 0,3% GDP, khiến nhiều doanh nghiệp công nghiệp tổn thất lên đến 10% doanh thu.

Thứ hai, tạo "tấm khiên" ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu sẽ rất dễ bị tổn thương trước các biến động địa chính trị. Vì vậy, tự chủ ANNL giúp quốc gia miễn nhiễm một phần với các cú sốc giá thế giới và kiểm soát lạm phát.

Thứ ba, tạo hiệu ứng số nhân và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đầu tư vào hạ tầng năng lượng mang lại tác động thúc đẩy kinh tế rất mạnh mẽ, với các bằng chứng thực nghiệm cho thấy hệ số nhân kinh tế có thể đạt mức từ 2,5 đến 3 lần (nghĩa là 1 đồng đầu tư tạo ra 2,5-3 đồng GDP). Đặc biệt, trong kỷ nguyên số hiện nay, việc có một hệ thống điện sạch, giá cả hợp lý, ổn định là điều kiện tiên quyết để giữ chân các nhà đầu tư và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao vào các lĩnh vực tiêu thụ nhiều điện năng như trung tâm dữ liệu AI hay sản xuất chất bán dẫn.

Ngoài ra nói ANNL không chỉ nói đến cung mà cần phải đề cập cả đến cầu. Cần phải tăng sử dụng và tiêu dùng năng lượng hiệu quả hơn, thông minh hơn. Trong điện sinh hoạt thì người dân phải có ý thức sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả hơn. Có như thế, ANNL mới toàn diện hơn.

PV: Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động về chính trị, kinh tế như hiện nay, ảnh hưởng như thế nào tới vấn đề ANNL, nhất là những quốc gia chưa tự chủ được trong lĩnh vực này?

PGS, TS Bùi Quang Tuấn: Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động như hiện nay, các quốc gia chưa tự chủ về năng lượng đang phải đối mặt với những tổn thương kinh tế sâu sắc và đa chiều. Những tác động này thể hiện rõ qua hai khía cạnh cốt lõi, đó là: Rủi ro "nhập khẩu lạm phát" và cú sốc giá cả; nguy cơ tê liệt chuỗi sản xuất

Sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu khiến nền kinh tế vĩ mô cực kỳ nhạy cảm trước những xung đột địa chính trị. Điển hình, cuộc khủng hoảng tại khu vực Trung Đông đầu năm 2026 đã đẩy giá dầu thô có thời điểm vọt lên ngưỡng 120USD/thùng. Chi phí năng lượng tăng cao ngay lập tức đẩy chi phí vận tải và sinh hoạt leo thang, minh chứng rõ nhất là chỉ số giá lương thực Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) đã tăng 2,4% chỉ trong tháng 3-2026.

Khác với các hạ tầng khác, hệ thống năng lượng phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch đòi hỏi nguồn cung cấp phải diễn ra liên tục. Khi các quốc gia không tự chủ được nguồn cung, bất kỳ sự phong tỏa tuyến hàng hải nào cũng dẫn đến tình trạng thiếu hụt năng lượng tức thời. Việc phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu mang lại lỗ hổng an ninh nghiêm trọng, khiến sinh mệnh của các chuỗi sản xuất trong nước bị đặt vào tay các biến số bên ngoài không thể kiểm soát.

Vì thế cần phải đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống năng lượng tái tạo nội địa và có khả năng chống đỡ tốt hơn trước những cú sốc từ thị trường quốc tế. Tự chủ năng lượng giờ đây chính là tự chủ về an ninh kinh tế.

leftcenterrightdel

Phân xưởng xử lý Kerosene của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đang hoạt động ở công suất cao nhất từ trước đến nay.

Ảnh: bsr.com.vn

PV: Thưa ông, gần đây nhiều người đề cập đến khái niệm “chủ quyền năng lượng”. Chúng ta cần hiểu khái niệm này như thế nào?

PGS, TS Bùi Quang Tuấn: Khái niệm "chủ quyền năng lượng" là một bước phát triển cao hơn và mang tính chiến lược sâu sắc hơn so với "ANNL" truyền thống.

Nếu ANNL chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm nguồn cung (không để thiếu điện, thiếu nhiên liệu) thì chủ quyền năng lượng được hiểu là khả năng tự quyết, sự tự chủ chiến lược và sức chống chịu của một quốc gia. Đó là việc sở hữu một hệ thống năng lượng đủ mạnh để không bị tổn hại bởi các cú sốc bên ngoài, và quan trọng nhất là không để quốc gia khác sử dụng năng lượng làm công cụ gây áp lực chính trị hay kinh tế.

Tuy nhiên, chủ quyền thực sự không có nghĩa là tự cung, tự cấp 100% một cách cực đoan, mà đến từ sự đa dạng hóa, tính linh hoạt của lưới điện và khả năng làm chủ công nghệ, tránh việc thoát khỏi sự phụ thuộc vào khí đốt nhập khẩu nhưng lại rơi vào bẫy phụ thuộc chuỗi cung ứng linh kiện công nghệ xanh của nước khác.

Bên cạnh đó, như tôi đã nói chủ quyền năng lượng cũng phải hiểu là sự thay đổi hành vi trong sản xuất và sử dụng điện hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn. Kinh tế tuần hoàn vì thế cần phải được đẩy mạnh để tái chế, tái sử dụng, giảm thiểu đầu vào, trong đó có năng lượng.

PV: Trong bối cảnh hiện nay cũng như tương lai, theo ông, đâu là bài học, kinh nghiệm hay từ thế giới mà Việt Nam có thể tham khảo trong bảo đảm ANNL?

PGS, TS Bùi Quang Tuấn: Từ những biến động và xu hướng chuyển dịch hiện nay của thế giới, Việt Nam có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cốt lõi để bảo đảm ANNL vững chắc trong tương lai:

Thứ nhất, phải bảo đảm nâng cao năng lực chống chịu với những cú sốc bên ngoài và bảo đảm ổn định năng lượng bằng việc tăng khả năng dự trữ năng lượng. Chúng ta đã có nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo đảm ANNL quốc gia, quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn chưa thực hiện được tốt cũng như chưa hoàn thiện được cơ sở hạ tầng để dự trữ xăng dầu cho quốc gia. Điều này đặt ra yêu cầu phải khẩn trương đẩy mạnh đầu tư để bảo đảm đủ dự trữ năng lượng.

Thứ hai, cần phải đẩy mạnh đầu tư vào năng lượng tái tạo và hiện đại hóa lưới điện. Thế giới đang dồn lực tài chính mạnh mẽ cho quá trình chuyển dịch. Cụ thể, trong năm 2025, tổng mức đầu tư năng lượng toàn cầu đạt 3,3 nghìn tỷ USD, trong đó nguồn vốn rót vào năng lượng sạch lên tới 2,2 nghìn tỷ USD, cao gấp đôi so với mức đầu tư cho nhiên liệu hóa thạch. Bên cạnh việc xây dựng nguồn phát, các quốc gia nhận ra hạ tầng lưới điện là nút thắt sống còn. Do đó, Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp lý để thu hút cả nguồn vốn FDI lẫn tư nhân vào các lĩnh vực này. Chúng ta đã có Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, nay cần phải cụ thể hóa các chính sách để thực hiện mục tiêu này.

Thứ ba, phát triển năng lượng tái tạo phải đi liền với hệ thống lưu trữ điện linh hoạt. Bài học từ sự phát triển bùng nổ trên thế giới cho thấy điện gió và điện mặt trời đang trở thành động lực chính. Tuy nhiên, để khắc phục tính thiếu ổn định, sự phát triển này bắt buộc phải kết hợp với hệ thống lưu trữ pin. Do vậy cần phải có đầu tư cho hệ thống lưu trữ này.

Thứ tư, chủ động đa dạng hóa và làm chủ chuỗi cung ứng công nghệ xanh. Báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cảnh báo từ 60% đến 85% năng lực sản xuất công nghệ sạch toàn cầu hiện đang tập trung vào một quốc gia duy nhất, tạo ra những "mắt xích yếu" dễ bị đứt gãy. Bài học cho Việt Nam là phải phát triển các trung tâm công nghiệp năng lượng tái tạo nội địa, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và đa dạng hóa nguồn nhập khẩu thiết bị để tự chủ năng lượng thực sự.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

DƯƠNG THU (thực hiện)