Di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ngày nay càng có ý nghĩa đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Những chia sẻ của nhà nghiên cứu, Giáo sư, Tiến sĩ (GS, TS) Bùi Quang Thanh sẽ làm rõ hơn nhận định này.

Phóng viên (PV): Thưa Giáo sư, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành truyền thống mang bản sắc riêng của người Việt. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, tín ngưỡng này có sự thay đổi ra sao?

GS, TS Bùi Quang Thanh: Truyền thuyết dân gian đất Phong Châu (Phú Thọ) từ hàng nghìn năm qua vẫn liền mạch lưu truyền về sự hiện tồn của 18 đời Vua Hùng. Và ngay từ buổi lịch sử thuở thiếu thời, trong tâm thức người Việt, các vị Vua Hùng, những người luôn được coi là có công khai mở quốc gia, dân tộc, luôn được trân trọng.

Thực tế cho thấy, trải qua hàng nghìn năm, tín ngưỡng cao đẹp này luôn có sự thay đổi/biến đổi và phát triển theo tầm nhận thức, nhu cầu thụ hưởng văn hóa của cộng đồng. Chẳng hạn về mặt thời gian, từ năm 1917 trở về trước, ngày giỗ tưởng nhớ, tri ân các Vua Hùng là 11 tháng Ba lịch trăng. Từ năm 1917 đến nay, lấy mồng 10 tháng Ba âm lịch hằng năm là ngày Giỗ Tổ. Về không gian, trước đây, việc thờ cúng các Vua Hùng chủ yếu tập trung ở cư dân Việt-Mường, đền thờ chỉ có tại vùng Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) và lân cận. Đến nay, đền thờ các Vua Hùng được lập ở nhiều nơi trên cả nước và nước ngoài. Về thực hành nghi lễ, hàng loạt hình thức sinh hoạt lễ hội và sự đa dạng của đồ thờ cúng đã được tổ chức, hiện diện ở trung tâm Nghĩa Lĩnh và các di tích thờ phụng tại các địa phương. Hằng năm, hàng triệu lượt người từ các tộc người khắp cả nước và các quốc gia hành hương về Nghĩa Lĩnh ngày Giỗ Tổ.

PV: Trải qua thời gian, đâu là những giá trị cốt lõi được lưu truyền của tín ngưỡng cao đẹp này, thưa Giáo sư?

GS, TS Bùi Quang Thanh: Chúng ta đều nhận thấy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, với người Việt, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, mà biểu hiện sâu sắc nhất là tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng, lại mang những nét bản sắc độc đáo riêng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

leftcenterrightdel
GS, TS Bùi Quang Thanh. 

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhiều giá trị văn hóa từ khởi nguồn dân tộc (thời đại các Vua Hùng) đã được bồi đắp và dần kết tinh thành những giá trị và hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam. Xuyên suốt lịch sử, giá trị văn hóa “cố kết cộng đồng” được thiết lập, kết nối thông qua hàng loạt hình thức thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Chính từ không gian văn hóa liên thông này, trong tâm thức bao đời, trong tư duy văn hóa của người dân qua hàng nghìn năm đã hình thành nên “một lẽ sống, một đạo lý tri ân” mang tính truyền thống bền vững.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã khai mở cho việc xác lập giá trị khâu nối, liên kết sức sống của văn hóa làng trong không gian văn hóa cộng đồng quốc gia đa dân tộc, trên tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Giá trị liên kết cộng đồng đó là hạt nhân tạo ra sức mạnh cho khối đoàn kết đại dân tộc xuyên suốt chiều dài lịch sử, trở thành các thiết chế văn hóa-chính trị, sợi dây thiêng gắn kết cá nhân-gia đình-dòng họ-làng xã-Tổ quốc để tạo ra giá trị chung cho ý thức cộng đồng, lòng yêu nước bất diệt và tinh thần đoàn kết bền vững mang bản sắc Việt Nam; làm cơ sở “sâu rễ bền gốc” hình thành hệ giá trị văn hóa dân tộc.

Và giá trị bao quát, có ý nghĩa nổi bật từ thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là góp phần quan trọng vào minh chứng cho sự tồn tại của một thời đại lịch sử có thật ở Việt Nam-thời đại Hùng Vương.

PV: Trong giai đoạn hiện nay, việc nhiều giá trị truyền thống dần có nguy cơ mai một trước sự lấn át của những trào lưu, lối sống mới đã có tác động như thế nào tới tín ngưỡng này?

GS, TS Bùi Quang Thanh: Thực tế cho thấy, trong gần hai chục năm trở lại đây, đã và đang hiện diện không ít yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở trung tâm Nghĩa Lĩnh nói riêng và trên địa bàn cả nước nói chung. Chẳng hạn như không gian thờ cúng Hùng Vương ở nhiều địa phương bị tác động ở những cấp độ, mức độ và phạm vi khác nhau. Nhiều phong tục, tục hèm mang tính thiêng bị lược bỏ. Nhiều không gian thực hành bị hiện đại hóa bằng công nghệ, mất đi dáng vẻ truyền thống, cổ kính vốn có, các công đoạn hành lễ bị cắt xén, biến đổi. Nhiều diễn trình lễ hội ở các làng quê giống nhau cả về trang phục, nghi thức, trò chơi dân gian, dẫn đến đánh mất bản sắc; nhiều hình thức thương mại, đồ chơi phản cảm xâm lấn; vai trò chủ thể của cộng đồng dần bị mờ nhạt; giới trẻ không có ý thức thực sự quan tâm, nhận thức về giá trị của di sản, hướng tới những thứ văn hóa ngoại lai, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc...

leftcenterrightdel

Rước kiệu về Đền Hùng là nghi thức truyền thống nhằm tri ân công đức các Vua Hùng. Ảnh: THÙY LINH  

PV: Việc gìn giữ và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có ý nghĩa như thế nào trong giai đoạn hiện nay, thưa Giáo sư?

GS, TS Bùi Quang Thanh: Khi đất nước đã và đang bước vào giai đoạn phát triển mới, di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương càng có ý nghĩa sâu sắc. Hầu hết giá trị văn hóa đã nêu sơ lược trên đây đến nay vẫn còn nguyên giá trị, từ cố kết cộng đồng, xây tạo văn hóa gia đình, dòng họ, làng xóm đến nhân cách sống theo đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, yêu quê hương, đất nước, sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì dân tộc... Đó là những thành tố cơ bản, chất liệu hội tụ, bồi đắp và truyền tải qua các thế hệ, tạo nên “sức mạnh mềm văn hóa” đủ sức ngăn chặn, chiến thắng mọi tác động của sự xâm lấn ngoại lai, những độc hại khách quan và chủ quan, hướng tới mục tiêu xây dựng một nền văn hóa và con người Việt Nam thời kỳ mới.

PV: Theo Giáo sư, việc tổ chức các hoạt động dịp Giỗ Tổ hiện nay cần quan tâm đến những vấn đề gì để vừa bảo đảm trang trọng, đúng nghi lễ, vừa hấp dẫn, thu hút đông đảo người dân tham gia, nhất là giới trẻ?

GS, TS Bùi Quang Thanh: Hằng năm, cứ vào dịp Giỗ Tổ, chúng ta lại thấy hàng triệu con dân nước Việt, cùng với khá nhiều bạn bè quốc tế hành hương về đất thiêng Nghĩa Lĩnh cũng như những địa bàn có đền thờ các Vua Hùng để chiêm bái, dâng lễ. Cả một không gian đầy ắp chất văn hóa truyền thống mang bản sắc Việt thật là cảm động và tự hào!

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy đã và đang tồn tại một số yếu tố, khía cạnh chưa phù hợp, chưa đáp ứng được mục tiêu xây dựng không gian văn hóa tiêu biểu mang tầm của một di sản văn hóa nhân loại. Điều đó đòi hỏi sự quan tâm duy trì hoạt động thực hành tại trung tâm Nghĩa Lĩnh và các địa điểm có đền thờ các Vua Hùng, từ cơ sở hạ tầng đến thực hành nghi lễ, lễ hội. Phải thực sự coi trọng vai trò của cộng đồng trong vị thế chủ thể sáng tạo và thực hành di sản; tạo điều kiện cho cộng đồng sáng tạo các sản phẩm du lịch, góp phần tạo sinh kế cho người dân khi tham gia gìn giữ, quảng bá giá trị di sản. Đồng thời, xây dựng được cơ chế thực hành lễ hội phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của cộng đồng, xây dựng chính sách cho các thế hệ nghệ nhân, những “báu vật nhân văn sống”-thành phần giữ vai trò quyết định đến sự tồn tại bền vững của di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói riêng và di sản văn hóa dân tộc nói chung.

PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

DƯƠNG THU (thực hiện)