Phóng viên (PV): Là người có nhiều công trình viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, cơ duyên nào đã giúp Giáo sư thực hiện được điều đó?

GS Hà Minh Đức: Tìm hiểu và nghiên cứu về Bác, chỉ riêng qua Hồ Chí Minh toàn tập mấy nghìn trang về các lĩnh vực, đã là một công việc công phu và đòi hỏi nhiều tâm sức. Khi nghiên cứu về Hồ Chí Minh, không phải lúc nào Bác cũng nói đến văn hóa, hay nói về văn hóa một cách rõ ràng, cụ thể. Văn hóa của Bác xen kẽ trong tất cả các vấn đề, lĩnh vực, từ việc lớn đến những việc nhỏ.

Tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai năm 1958, Bác Hồ đến dự. Lúc đó tôi phụ trách Tổng biên tập tờ Sinh viên Việt Nam, được dự đại hội, đã ghi chép lại toàn bộ bài phát biểu và nói chuyện của Bác. Sau này tôi gửi tặng lại bản ghi chép cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, nhờ đó mà có duyên gần gũi, thân thiết với Bảo tàng và thường lui tới tham quan, tìm hiểu các hiện vật ở đây.

Có lần, sau nhiều cố gắng, tôi cũng có duyên được tiếp xúc với bản thảo gốc tác phẩm “Nhật ký trong tù”. Từ đó, tôi đã tìm được nhiều luận chứng chứng minh Bác Hồ là tác giả duy nhất của “Nhật ký trong tù”. Hơn nữa, đây cũng là cơ hội giúp tôi biết trong tập “Nhật ký trong tù” có một trang văn xuôi, trong đó, Bác đã đưa ra định nghĩa hết sức khoa học về văn hóa mà nhiều năm sau, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng ra một định nghĩa về văn hóa tương đồng với Bác. Đó là điều thật kỳ lạ!

leftcenterrightdel
Giáo sư Hà Minh Đức. 

Tôi cũng may mắn được thân quen với nhiều người thân thiết với Bác, đó cũng là một thuận lợi lớn. Tôi là học trò và được GS Nguyễn Khánh Toàn coi như con cái trong nhà. Sinh thời, Giáo sư gần với Bác Hồ. Nhờ đó, qua thầy, tôi được biết thêm nhiều chuyện rất đời của Bác và nhận ra những nét văn hóa rất Hồ Chí Minh.

PV: Theo Giáo sư, văn hóa Hồ Chí Minh được thể hiện như thế nào?

GS Hà Minh Đức: Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là di sản quý của dân tộc mà những người nghiên cứu như tôi luôn muốn được tìm hiểu và làm sáng rõ hơn. Tôi đã có nhiều cuốn sách nghiên cứu về Người, từ thơ, văn đến lý luận phê bình, báo chí, văn hóa... Trong cuốn “Văn hóa Hồ Chí Minh” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2025, tôi có phân tích văn hóa Hồ Chí Minh thể hiện qua nhiều lĩnh vực, như: Văn hóa học đường, văn hóa và đời sống xã hội, văn hóa ứng xử, văn hóa báo chí, văn hóa của văn nghệ, văn hóa quân sự, văn hóa và đổi mới, văn hóa trong công tác tuyên giáo...

Chỉ qua những tác phẩm của Bác in trên Báo Nhân Dân xung quanh những sự việc gần gũi, thiết thực trong đời sống đã thể hiện tư tưởng, răn dạy của Người về văn hóa, như: Không được kiêu ngạo, phải biết khiêm tốn ra sao; đạo đức cách mạng là như thế nào; không được lãng phí, nhất là lãng phí lương thực; ý thức tôn trọng người già, thương cảm với trẻ em, tôn trọng phụ nữ...

Bác cũng thể hiện tầm tư tưởng, văn hóa lớn. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946, Bác nêu quan điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, đến nay vẫn là kim chỉ nam xuyên suốt cho hoạt động văn hóa-nghệ thuật của Đảng ta. Hay phương châm kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến, mà Bác quán triệt đã trở thành chủ trương chiến lược của Đảng ta trong kháng chiến. Hoặc những tư tưởng văn hóa và đổi mới vừa thể hiện trong hành động của Bác, vừa được khái quát trong những bài báo và các tác phẩm như: "Đời sống mới", "Sửa đổi lối làm việc"...

PV: Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa có ý nghĩa ra sao, thưa Giáo sư?

GS Hà Minh Đức: Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của Đảng, của dân tộc, Người còn là một chiến sĩ văn hóa, một nhà văn hóa kiệt xuất. Người đã kết hợp hài hòa giữa tinh hoa văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại theo tinh thần tôn trọng, khoan dung văn hóa, từ đó hình thành một văn hóa tiên tiến, cách mạng và mang tính nhân văn sâu sắc. Kết tinh những giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra một thời đại văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam-văn hóa thời đại Hồ Chí Minh, đóng góp vào sự phát triển của văn hóa dân tộc và thế giới.

Văn hóa Hồ Chí Minh là phẩm chất cao đẹp về trí tuệ, đạo đức và ánh sáng soi đường mà Người đã để lại cho dân tộc. Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Người luôn coi trọng phát triển văn hóa, nhấn mạnh vai trò của văn hóa “phải soi đường cho quốc dân đi”. Người đã khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của truyền thống văn hóa dân tộc, phát động phong trào xây dựng đời sống mới để xây dựng một nền đạo đức mới, con người mới... Văn hóa Hồ Chí Minh được thể hiện, thấm đẫm trong các lĩnh vực hoạt động của Người. Qua tư tưởng, qua từng hành động nhỏ của mình, bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thể hiện là một tấm gương văn hóa sáng ngời.

leftcenterrightdel

Cuốn sách "Văn hóa Hồ Chí Minh". Ảnh: THU HÒA 

PV: Trong thi ca, văn hóa Hồ Chí Minh đã thể hiện những nét nổi bật gì, thưa Giáo sư?

GS Hà Minh Đức: Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc tác dụng của văn học-nghệ thuật với cuộc sống và phong trào cách mạng. Ngay từ năm 1943, trong hoàn cảnh bị giam hãm bởi nhà tù Tưởng Giới Thạch, Người đã có những vần thơ tỏa sáng trí tuệ và đằm sâu tình cảm: “Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp/ Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông/ Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong” ("Cảm tưởng đọc "Thiên gia thi"-"Nhật ký trong tù").

Người đã tặng cho văn nghệ sĩ một phương châm hành động, một định hướng về tư tưởng và một danh hiệu đẹp: Nghệ sĩ chiến sĩ. Người căn dặn: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh...”.

Sinh thời, Người nhận mình chỉ là người yêu chuộng văn nghệ chứ không phải là một nhà văn nghệ. Người cũng nói mình không phải nhà thơ. Nhưng có thể nói, bên cạnh những cống hiến cho cách mạng bằng sự nghiệp lớn về chính trị, Người đã góp phần quan trọng bằng những sáng tác thơ ca cho nền văn nghệ, văn hóa dân tộc.

Nói đến thơ Hồ Chí Minh, không thể không nhắc đến “Nhật ký trong tù”. Phải nói rằng, đây là tập thơ của người trí thức trí tuệ chứ không phải làm thơ vì để “qua ngày”. Tập thơ thể hiện bản lĩnh của chiến sĩ cách mạng với tinh thần bất khuất, như nhà thơ Trung Quốc Quách Mạt Nhược nhận xét: "Nhật ký trong tù" có hơn 100 bài thơ với 2.700 chữ chỉ có một chữ thép, đọc kỹ bài nào, câu nào cũng có thép.

Thơ kháng chiến chống thực dân Pháp của Bác cũng rất hay và sâu sắc. Chẳng hạn, tư tưởng, quan điểm về văn hóa quân sự được Bác mượn chuyện “Học đánh cờ”: “Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ/ Kiên quyết không ngừng thế tiến công”, “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Còn trong “Cảnh khuya”, giữa cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng: “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ/ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”, lại cho thấy tấm lòng yêu nước thấm rất sâu đậm, dù trong hoàn cảnh rất cô đơn nhưng cái không ngủ, cái nỗi lo hơn nữa là lo nỗi nước nhà.

Cho đến năm cuối đời, trong thơ chúc Tết năm 1969, thơ Bác vẫn thấm đẫm văn hóa, tinh thần của chiến sĩ văn nghệ với nhiệm vụ-như Người từng nói-hết lòng phụng sự kháng chiến, Tổ quốc, nhân dân với một niềm tin tất thắng: “Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!".

PV: Đến hôm nay, giá trị di sản thi ca Hồ Chí Minh có vị trí, ý nghĩa ra sao, thưa Giáo sư?

GS Hà Minh Đức: Từ bài thơ “Việt Nam yêu cầu ca” năm 1919 đến thơ chúc Tết năm 1969, trong 50 năm ấy, Bác đã có tập thơ “Nhật ký trong tù”, rồi những bài ca xuống đường thời tiền khởi nghĩa, thơ kháng chiến chống thực dân Pháp và thơ chúc Tết..., mà nói như nhà thơ Cuba Felix: “Người là cả một niềm thơ”.

Đó không chỉ là di sản quý có giá trị văn chương sâu sắc mà còn thể hiện nét văn hóa Hồ Chí Minh, thấm đẫm trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam; đã hòa vào và trở thành một phần của văn hóa dân tộc, văn hóa con người Việt Nam; bồi đắp sức mạnh nội sinh của dân tộc, đưa đất nước vững bước trên con đường phát triển.

DƯƠNG THU (thực hiện)