Phóng viên (PV): Thưa chị, văn học dân gian trong kho tàng văn hóa Tây Nguyên có vị trí, ý nghĩa như thế nào đối với đời sống đồng bào nơi đây?

Nhà văn Niê Thanh Mai: Tây Nguyên với nền văn hóa đặc sắc, đa dạng, là nơi lưu giữ kho tàng văn học dân gian đồ sộ, phong phú. Những sử thi, truyện cổ, lời ca... không chỉ là “kho tàng ký ức” của cộng đồng mà còn là nền tảng tinh thần, chuẩn mực đạo đức và là sợi dây tâm linh kết nối con người với thiên nhiên, chi phối sâu sắc đời sống văn hóa-xã hội của đồng bào các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, M'nông...

Văn học dân gian Tây Nguyên, đặc biệt là sử thi đều chứa đựng những dấu ấn của dân tộc, ghi lại quá trình hình thành buôn làng, các cuộc di cư, đấu tranh và chinh phục thiên nhiên, xoay quanh những chiến công của các anh hùng có công bảo vệ buôn làng, chống lại những thế lực đen tối, xấu xa. Nhân vật trong sử thi đại diện cho ước vọng của cả cộng đồng, cho những cuộc đấu tranh vì lý tưởng nhân văn cao cả. Bên cạnh đó, văn học dân gian Tây Nguyên chứa đựng những quan sát tinh tế về thiên nhiên, cách ứng xử hài hòa giữa con người và rừng già. Đó là những kinh nghiệm được đúc kết qua ngôn ngữ giàu hình ảnh. Nhờ đó, văn học dân gian đóng vai trò lưu giữ lịch sử và tri thức cộng đồng, được truyền miệng qua nhiều thế hệ.

leftcenterrightdel

Học làm gốm truyền thống. Ảnh: NSNA QUANG KHẢI

Bài khấn, lời hát, truyện kể của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên phản ánh quan niệm về vũ trụ, thần linh, con người, thể hiện niềm tin của con người vào thần linh. Một điểm độc đáo của văn hóa Tây Nguyên là thông qua truyện cổ, sử thi, tục ngữ, dân ca, luật tục... để răn dạy về lòng trung thực, đạo lý làm người, trách nhiệm với dòng họ, giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ.

PV: Đâu là những điểm đặc trưng làm nên sức sống của văn học dân gian Tây Nguyên, thưa chị?

Nhà văn Niê Thanh Mai: Có thể khẳng định, sức sống bền bỉ của văn học dân gian Tây Nguyên được nuôi dưỡng từ chính đại ngàn hùng vĩ, từ nếp sống cộng đồng và thế giới tâm linh giàu huyền thoại của các dân tộc nơi đây. Trong không gian rừng núi bao la, thân thuộc, gần gũi và thiêng liêng, chất sử thi hiện lên mạnh mẽ qua những nhân vật phi thường mang vóc dáng và khát vọng cao đẹp của cả cộng đồng. Âm hưởng hào hùng, niềm tự hào cùng ý thức gắn kết bền chặt đã tạo nên vẻ đẹp riêng, giúp văn học dân gian Tây Nguyên được gìn giữ, truyền nối qua nhiều thế hệ.

Với đặc trưng thường được trình bày qua hình thức diễn xướng, nghệ nhân vừa là người kể chuyện, vừa là người sáng tạo nên tác phẩm có thể biến đổi theo từng lần kể. Do đó, văn học dân gian luôn vận động, thích nghi gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng, trong các lễ hội truyền thống và được truyền nối qua nhiều thế hệ, giúp nó duy trì sức sống bền bỉ.

PV: Trong giai đoạn hiện nay, khi không gian văn hóa nói chung, không gian cho văn học dân gian nói riêng đã và đang có sự biến đổi. Điều đó có tác động như thế nào đến việc gìn giữ, thực hành, lan tỏa giá trị văn học dân gian Tây Nguyên trong đời sống?

Nhà văn Niê Thanh Mai: Văn học dân gian Tây Nguyên “sống” và phát triển rực rỡ khi được đặt trong đời sống cộng đồng, trong không gian đặc trưng của đồng bào các dân tộc. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, di dân, mở rộng canh tác, sự xâm nhập của các loại hình văn hóa mới đã làm thay đổi căn bản cấu trúc buôn làng truyền thống. Không gian sinh hoạt cộng đồng như nhà dài, nhà rông dần bị thu hẹp vai trò, thậm chí bị thay thế hoặc biến đổi chức năng. Tôi đã từng bắt gặp những ngôi nhà rông lợp tôn bị bỏ hoang hoặc để tổ chức các cuộc họp, tập trung chờ phát quà từ thiện...

leftcenterrightdel

Rót rượu cần trong Liên hoan văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk năm 2024. Ảnh: NSNA QUANG KHẢI

Cũng không thể không nhắc đến một yếu tố có vai trò quan trọng để văn học dân gian được “sống” một cách đúng nghĩa. Đó là rừng. Rừng với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có mối gắn kết chặt chẽ, bền bỉ. Rừng không chỉ là môi trường sống, vật chất mà còn là tâm linh, khởi nguồn của sử thi và không gian thiêng của các lễ hội.

Khi không gian sinh hoạt cộng đồng bị biến đổi, diện tích rừng bị thu hẹp, văn hóa nói chung, văn học dân gian nói riêng sẽ chịu tác động mạnh mẽ. Các đêm khan, các hoạt động diễn xướng dần thưa vắng dẫn đến sự kế thừa, truyền đời bị đứt nối. Chức năng giáo dục, gắn kết cộng đồng vốn là đặc điểm nổi bật của văn học dân gian dần mai một... Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay cũng mở ra cơ hội số hóa sử thi, truyện kể, lời hát ru... và đưa lên nền tảng số để tiếp cận các đối tượng công chúng rộng hơn. Việc nhận thức đầy đủ về thực tế này sẽ giúp chúng ta có hướng đi, giải pháp để việc bảo tồn văn hóa, văn học dân gian Tây Nguyên đi vào thực chất, hiệu quả hơn.

PV: Hiện nay, khi nghệ nhân, người kể chuyện ngày càng ít, không gian thực hành thu hẹp, đặt ra vấn đề gì trong việc gìn giữ và phát huy giá trị văn học dân gian Tây Nguyên?

Nhà văn Niê Thanh Mai: Như đã nhắc đến ở trên, văn học dân gian Tây Nguyên vốn tồn tại bằng diễn xướng trong cộng đồng (kể khan, hát dân ca...) và hấp dẫn bởi “sự ứng tác” sáng tạo của người kể, người hát... Khi các nghệ nhân càng vắng bóng, với không gian thực hành bị thay đổi, phá vỡ, việc gìn giữ và phát huy giá trị văn học dân gian trở thành một bài toán khó.

Khó, bởi vấn đề đặt ra ở đây là bảo tồn như thế nào? Nếu tiếp tục tiếp cận theo hướng tách rời văn học dân gian khỏi không gian quen thuộc vốn có thì mọi nỗ lực dù quy mô đến đâu cũng khó tránh khỏi nguy cơ hình thức hóa, chỉ lưu giữ lại được phần “xác”, phần hình hài bề ngoài của nó mà bỏ quên bản chất cốt lõi.

Nhưng đã có những tín hiệu vui đến từ chính các buôn làng, cộng đồng và những người trẻ. Các lớp học cồng chiêng, đàn đá được duy trì tại một số bon làng thu hút nhiều học sinh, thanh niên tham gia. Có những người không quản ngại khó khăn để tiếp tục hành trình truyền giữ kho tàng quý giá của dân tộc mình khi cha mẹ về với ông bà. Bên cạnh đó là sự gìn giữ, lan tỏa của những văn nghệ sĩ, những người trót nặng lòng với văn hóa Tây Nguyên. Nhiều trường học cũng đã đưa văn học dân gian vào chương trình giảng dạy, mời nghệ nhân về hướng dẫn cho học sinh... Dẫu còn những thách thức, khó khăn, họ vẫn là những tia sáng thắp lên niềm tin văn hóa, văn học dân gian Tây Nguyên không mất đi.

PV: Với riêng Hội VHNT tỉnh Đắk Lắk, thời gian qua đã có sự quan tâm thế nào với văn học dân gian?

Nhà văn Niê Thanh Mai: Với đặc trưng của văn hóa đa dạng các dân tộc, VHNT Đắk Lắk nói riêng, Tây Nguyên nói chung có rất nhiều chất liệu văn nghệ dân gian ở nhiều lĩnh vực, trong đó có văn học dân gian. Với lợi thế đó, Hội VHNT tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức nhiều chương trình mời các nghệ nhân ở buôn làng tham gia biểu diễn; đồng thời phối hợp với một số trường học giới thiệu loại hình văn nghệ dân gian, giao lưu với các nghệ nhân... Việc đưa văn nghệ dân gian về các trường học là cách Hội VHNT tỉnh cụ thể hóa bằng hành động Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời hỗ trợ cho chương trình giáo dục địa phương.

Ngoài ra, chúng tôi cũng rất quan tâm đến việc truyền dạy cho lực lượng trẻ, như tổ chức lớp tập huấn múa dân gian; văn nghệ sĩ Chi hội Văn nghệ dân gian tham gia giảng dạy, truyền dạy đánh chiêng; giới thiệu sách về văn hóa, văn học dân gian trong các ngày hội sách... Với những nỗ lực, tâm huyết của các văn nghệ sĩ, nghệ nhân và đồng bào, tin rằng mạch nguồn văn hóa Tây Nguyên, trong đó có văn học dân gian sẽ được tiếp nối và lan tỏa hơn.

PV: Trân trọng cảm ơn chị!

DƯƠNG THU - ĐẮK CƯỜNG (thực hiện)