Nhân dịp kỷ niệm 10 năm Hà Nội mở rộng, phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần đã có cuộc phỏng vấn TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Thăng Long.

Phóng viên (PV): Là người từng chứng kiến một số lần Hà Nội mở rộng, chia tách địa giới hành chính, ông có cảm xúc như thế nào về lần mở rộng Thủ đô từ năm 2008 đến nay?

TS Nguyễn Viết Chức: Có thể gọi tôi là một công dân của Thủ đô hoặc là công dân Hà Tây (trước đây) cũng được, bởi tôi từng có nhiều năm gắn bó với vùng đất này. Tôi từng là một “sứ giả” đi lên trao đổi với Hòa Bình để thực hiện chủ trương sáp nhập Hòa Bình với Hà Tây năm 1976. Ba Vì và một số huyện khác của Hà Tây trước đây cũng từng thuộc Hà Nội, rồi sau đó lại tách ra và đến năm 2008 thì Hà Nội có một cuộc mở rộng địa giới hành chính chưa từng có trong lịch sử, cụ thể là sáp nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, 4 xã thuộc huyện Lương Sơn (Hòa Bình) và huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc). Điều đó nói lên rằng, việc mở rộng Thủ đô là do yêu cầu của sự phát triển và thực tế sau 10 năm đã để lại những dấu ấn tích cực. Sau 10 năm mở rộng, bức tranh Thủ đô có nhiều mảng sáng so với nhiều địa phương khác, so với nhiều cuộc sáp nhập khác.

leftcenterrightdel
Chùa Bối Khê (xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai)-ngôi chùa cổ đã được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia. Ảnh: PHÚC ANH

PV: Theo ông, trong 10 năm qua, Thủ đô đã đạt được những thành tựu nào đáng kể về kinh tế-xã hội cũng như văn hóa?

TS Nguyễn Viết Chức: Cuộc mở rộng địa giới hành chính đã tạo nguồn lực cả về nhân lực, vật lực để Thủ đô phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn. Về chính trị vẫn giữ ổn định giữa hai phần, không có hiện tượng mâu thuẫn cục bộ địa phương. Kinh tế có sự tăng trưởng rất đáng kể, bộ mặt đô thị và nông thôn đổi mới nhanh. Về xã hội: Vùng mới và cũ ngày càng gắn bó với nhau, chia sẻ với nhau, phần mở rộng xuất hiện nhiều hợp tác xã kiểu mới, trung tâm sản xuất rau sạch, thực phẩm sạch cung cấp cho các quận nội thành. Còn khu vực trung tâm Thủ đô chuyển giao tri thức mới, công nghệ mới về sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, sản xuất sạch, tạo sự phát triển tốt cho các huyện ngoại thành...

10 năm không phải là dài so với lịch sử phát triển của 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, song cũng không phải quá ngắn. Thế nhưng sau mở rộng địa giới, Hà Nội không có cú sốc lớn về văn hóa, mặc dù vẫn có sự chênh lệch giữa quận với huyện, trung tâm với ngoại vi. Cả Hà Nội cũ và mới cùng nằm trong Đồng bằng châu thổ sông Hồng, chung nền văn hóa nông nghiệp lúa nước nên phong tục tập quán, ứng xử của người dân có nhiều nét tương đồng. Hà Tây, Mê Linh lại là một địa bàn tinh túy, có nhiều nét văn hóa tương đồng với Hà Nội. Sự tương đồng ấy đã bổ sung cho nhau, làm cho nhau phát triển tốt hơn. Hà Nội là vùng văn hóa lớn. Do đó, các địa phương thuộc phần Hà Nội mở rộng cũng được ảnh hưởng rất nhiều từ văn hóa trung tâm. Khi sáp nhập thành một đầu mối, dưới sự quản lý của Hà Nội thì một số lĩnh vực văn hóa-nghệ thuật sẽ mạnh hơn, chẳng hạn như hai nhà hát chèo hay đoàn kịch nói của Hà Tây, Hà Nội trước đều là những đơn vị có tên tuổi. Khi sáp nhập làm một không những vẫn giữ được phong độ mà còn phát triển mạnh hơn trước cả về số lượng và chất lượng. Hà Tây vốn có hoạt động văn hóa cơ sở rất tốt, cùng góp sức với vùng lõi Hà Nội xưa làm cho chất lượng hoạt động văn hóa ở cơ sở được nâng cao.

Khu vực Hà Nội mở rộng là nơi dày đặc di sản, di tích lịch sử-văn hóa. Mê Linh từng là cố đô, nơi Hai Bà Trưng đóng đô; Hà Tây là mảnh đất ngàn năm văn hiến, nơi sinh ra những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử dân tộc như: Nguyễn Trãi ở Thường Tín; Phùng Hưng, Ngô Quyền ở Đường Lâm,… Trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, Hà Nội và phần mở rộng gần như gắn bó với nhau. Hà Tây được ví là cửa ngõ Thủ đô, là địa bàn của cô gái Suối Hai, chàng trai Cầu Giẽ, là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”, là quê hương của chiếc gậy Trường Sơn... Điều đó cho thấy, miền đất Hà Nội mở rộng với miền đất Thăng Long xưa có sự gắn kết mang tính lịch sử. Đây là vùng ngoại biên sát nách có lịch sử văn hóa, cách tổ chức canh tác, tổ chức đời sống văn hóa khá tương đồng với Hà Nội xưa. Vì vậy, sự sáp nhập các địa phương này với nhau là sự cộng hưởng tạo nên bản nhạc văn hóa sinh động cho Thủ đô.

PV: Hà Nội phần mở rộng là nơi có rất nhiều phong tục-lễ hội độc đáo. Trong quá trình tham gia nghiên cứu và biên soạn cuốn “Bách khoa thư Hà Nội phần mở rộng”, ông có ấn tượng với phong tục-lễ hội nào ở vùng đất này?

TS Nguyễn Viết Chức: Khi đi thực tế tìm hiểu đồng bào Mường ở Ba Vì và các xã thuộc Thạch Thất, tôi mới hiểu tư duy đời sống tâm linh của họ rất khác với người Kinh. Người Kinh hầu như không cúng thịt chó, nhưng người Mường khi làm lễ tiễn người chết về thế giới bên kia là bắt buộc phải có thịt chó hoặc thịt vịt. Nhà nào giàu có thì thịt cả con, nhà nào không có điều kiện thì cũng phải có 4 chân và đầu chó để cúng. Họ quan niệm, con chó và con vịt có khả năng trợ giúp cho người đã khuất của mình vượt qua cầu vồng bình an lên thiên đàng. Trước đây, một số nơi ở Hà Tây cũ còn có tục vợ đẻ khó thì chồng phải lội ao, lạnh mấy cũng phải lội… Còn lễ hội ở vùng Hà Nội mở rộng vô cùng đặc sắc, mà đặc sắc nhất là Lễ hội Chùa Hương (Mỹ Đức)-lễ hội dài nhất ở nước ta; Lễ hội đền Hai Bà Trưng (Mê Linh) thờ hai nữ vương đầu tiên của nước ta; Lễ hội Bình Đà (Thanh Oai) giáo dục truyền thống về dòng giống Lạc Hồng; Lễ hội Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh…

leftcenterrightdel
TS Nguyễn Viết Chức. Ảnh: MINH THÀNH

PV: Mặc dù có nhiều mảng sáng nhưng theo đánh giá của các chuyên gia thì sự phát triển về văn hóa-xã hội vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của Hà Nội mở rộng. Theo ông, nguyên nhân vì sao? 

TS Nguyễn Viết Chức: Cuộc mở rộng địa giới lần nào cũng có những hạn chế và khó khăn nhất định của nó. Nguyên nhân là có sự chênh lệch về trình độ nhân lực, sự phát triển giữa quận với huyện, giữa trung tâm nội thành và vùng ngoại thành, vùng sâu, vùng xa. Khi mở rộng địa giới hành chính thì bộ máy cũng trở nên cồng kềnh, đặc biệt là thời gian đầu có sở tới 8-9 phó giám đốc, có phòng, số cán bộ nhiều hơn nhân viên. Công tác cán bộ cũng có khó khăn trong việc xếp sắp bởi những chênh lệch về nhận thức, trình độ học vấn và cách thức điều hành. Cho đến nay, ít nhiều cán bộ vẫn có sự mặc cảm nhất định giữa phần mở rộng với khu vực Hà Nội cũ. Có người vẫn nghĩ có thể nhập vào rồi lại tách ra dẫn đến làm việc cầm chừng trên nhiều mặt, từ đó hạn chế sự phát triển chung.

Do địa bàn quá rộng, cán bộ quản lý thành phố, đặc biệt là ngành văn hóa nhiều việc không quán xuyến hết được, nên dẫn đến một số vụ việc đáng tiếc xảy ra như chùa Trăm Gian hạ giải không đúng quy định, lúng túng trong việc quy định trách nhiệm thuộc về ai? Cách bảo tồn và phát huy giá trị Làng cổ Đường Lâm như thế nào cho hiệu quả? Số lượng di sản quá lớn, nguồn lực về tài chính, nhân lực chưa đủ khả năng bao quát các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn nên ngay cả việc bảo tồn di tích ở Hà Nội cũ như Cổ Loa cũng chưa đáp ứng được như kỳ vọng của nhân dân.

 Về lĩnh vực văn học-nghệ thuật, nghiên cứu văn hóa, thực tế thì về mặt tổ chức đã có Hội Liên hiệp văn học-nghệ thuật Hà Nội nhưng hiệu quả hoạt động chưa mạnh. 10 năm qua, ngoài bộ sách “Bách khoa thư Hà Nội phần mở rộng” do Thành ủy chỉ đạo biên soạn thì cũng chưa có công trình nghiên cứu nào lớn và sâu về văn hóa vùng đất mở rộng này. Ngày xưa, hoạt động văn học-nghệ thuật tỉnh Hà Tây phát triển rất mạnh, có những tác giả, tác phẩm nổi tiếng văn đàn. Vì thế, nhiều người vẫn còn mơ về một trung tâm văn hóa ven đô, cửa ngõ Thủ đô xưa, tìm kiếm một nhà Hà Nội học mới sau khi cụ Nguyễn Vinh Phúc, cụ Giang Quân qua đời...

PV: Thời gian tới, thành phố Hà Nội cần phải làm gì để giải quyết những bất cập và phát huy thế mạnh văn hóa vùng Hà Nội mở rộng, thưa ông?

TS Nguyễn Viết Chức: Phải nhận thức rằng di sản cha ông để lại cho khu vực này rất lớn, trong đó có di sản vật thể tầm cỡ như: Chùa Hương, chùa Tây Phương, đình Tây Đằng, chùa Bối Khê, khu K9-Tản Viên, Đền Và, Chùa Mía,… Số lượng lớn, yêu cầu bảo tồn và phát triển cũng rất lớn, đòi hỏi lượng kinh phí cũng như nhân lực, trí tuệ đầu tư vào đó rất nhiều, xem ra nhận thức chung của lãnh đạo các cấp chưa theo kịp sự phát triển lớn như vậy. Vì thế, cần có biện pháp mang tính chiến lược, lâu dài trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản ấy.

Việc quản lý văn hóa đòi hỏi phải có bộ máy mạnh mẽ hơn, hiểu biết sâu sắc hơn về vùng đất mới có thể bao quát được một địa bàn rộng lớn như vậy. Cần có sự phân cấp, phân nhiệm quản lý hợp lý để bảo đảm văn hóa Thủ đô Hà Nội thống nhất trong đa dạng, từng vùng miền vẫn giữ được bản sắc của mình nhưng vun đắp cho bản sắc chung là văn hóa Thăng Long-Hà Nội, không lẫn với bất cứ thành phố khác. Tuy nhiên, cũng phải tính toán để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về chất lượng giáo dục, đời sống văn hóa tinh thần, xóa dần ranh giới văn hóa vùng miền trong bản thân Thủ đô. Ngoài ra, người Hà Nội phần mở rộng dẫu khó thay đổi cũng cần cố gắng điều chỉnh dần để ngôn ngữ sử dụng bảo đảm sự trong sáng của tiếng Việt, hạn chế nói ngọng, nói khó nghe, phát âm không chuẩn...

Sự phát triển “nóng” đô thị mới ở khu vực mở rộng đang để lại những hệ quả không tốt cho sự phát triển và tâm trạng của người dân trong vùng có dự án và ngoài vùng có dự án. Do vậy, cần phải quan tâm giải quyết kịp thời những bức xúc của nhân dân để xây dựng đời sống văn hóa thực chất ở các khu dân cư, nông thôn mới, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

Tôi tin rằng, dưới sự chỉ đạo của Trung ương và thi hành Luật Thủ đô, lãnh đạo thành phố Hà Nội sẽ khai thác tốt tiềm năng, tiềm lực sau khi mở rộng địa giới để phát triển Thủ đô ngày càng giàu có, văn minh, văn hóa hơn, thật sự là trung tâm lớn đầu não về chính trị, trung tâm lớn về văn hóa của cả nước.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

HÀ THANH MINH (thực hiện)