Bà L.Bớc-tơn viết: "Nếu tôi phải chọn một người để hướng dẫn những khách đến Việt Nam lần đầu tiên, tôi sẽ chọn ông Hữu Ngọc. Nếu tôi phải chọn một cuốn sách cho những người sắp thăm Việt Nam hoặc cho những người không có dịp đến thăm Việt Nam, tôi sẽ chọn cuốn “Viet Nam: Tradition and change”.

Nhân dịp Xuân Đinh Dậu 2017, phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần có dịp trò chuyện với tác giả cuốn sách về lễ Tết, một giá trị văn hóa cũng trong khuôn viên "truyền thống và đổi thay".

Cái "thần" của Tết Việt Nam

Phóng viên (PV): Trong nhiều sách và bài báo của ông viết về văn hóa các dân tộc, ông thường nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự "tiếp biến văn hóa". Phải chăng, khái niệm này cũng chi phối cuốn "Viet Nam: Tradition and change" và lễ hội Tết của người Việt?

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Đúng vậy. Đó là sợi chỉ đỏ giúp ta tìm hiểu bản sắc và quá trình biến diễn của mọi giá trị văn hóa dân tộc. Năm 1978, tôi được cử làm thành viên Việt Nam đi dự Hội nghị UNESCO châu Á ở Tehran (Iran) và do đó làm quen với khái niệm "tiếp biến văn hóa". Một nền văn hóa dân tộc hình thành và phát triển theo hai con đường: Biến diễn do quy trình vận động của tự bản thân và tiếp biến văn hóa nước ngoài. Theo định nghĩa của từ vựng UNESCO ở Tehran, tiếp biến văn hóa (Acculturation) là "sự tiếp xúc giữa những nhóm có văn hóa khác nhau dẫn đến kết quả là những thay đổi về văn hóa cho mỗi nhóm".

Về mặt tích cực thì khi hai nền văn hóa dân tộc A và B tiếp xúc với nhau thì A sẽ tiếp thu được một số yếu tố hay của B (A+B), rồi biến cái tiếp thu theo bản sắc của mình để tạo ra những giá trị mới (A+B=AB2); tương tự quá trình biến diễn của B cũng như vậy (B+A=BA2).

PV: Như vậy sẽ làm phong phú thêm văn hóa dân tộc mình. Trong mấy nghìn năm lịch sử, người Việt đã có dịp tiếp biến với văn hóa nhiều dân tộc. Có lẽ ảnh hưởng lớn nhất về mặt tiếp biến là Trung Quốc, Ấn Độ vào thời Trung cổ, Pháp và sự toàn cầu hóa của thời hiện đại?

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Hai nhà Việt Nam học người Pháp Durand và Huard nhận định là, một đặc điểm của tiếp biến văn hóa Việt Nam với văn hóa ngoại lai là ta vẫn giữ được bản sắc của ta trong khi làm nó phong phú thêm.

PV: Áp dụng nhận xét này với lễ, Tết của ta hẳn cũng như vậy? Có nhiều vị khách phương Tây đặt câu hỏi: Dân tộc nào cũng có Tết. Không hiểu Tết có "ma lực" gì mà làm xáo động cả dân tộc Việt Nam đến thế? Trước Tết và sau Tết, tại sao các bến ô tô, ga tàu, sân bay người "đông như kiến", Việt kiều khắp thế giới cũng háo hức về quê hương. Tại sao lại như vậy, thưa ông?

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Dân tộc nào cũng có Tết, nhưng thường chỉ vỏn vẹn một ngày, không mang ý nghĩa thiêng liêng như Tết ta. Tết Việt Nam, ngoài ý nghĩa vui Xuân, còn kết hợp nhiều nội dung của nhiều lễ hội khác phương Tây: Ý nghĩa tinh khiết và tái sinh của Lễ Phục sinh; ý nghĩa vui được mùa và bình an của Lễ Tạ ơn Chúa; cũng đồng thời là dịp họp mặt đông đủ của thị tộc, ý nghĩa họp mặt gia đình cho quà của Lễ Chúa giáng sinh. Nhưng nếu đem cộng tất cả những lễ hội phương Tây ấy lại, vẫn chưa thể hiện được cái "thần" của Tết Việt Nam với một nền văn hóa riêng.

leftcenterrightdel
 

Nhà văn hóa Hữu Ngọc bên cuốn "Viet Nam: Tradition and change". Ảnh: HOÀNG VIỆT

Tết ta kết tinh những gì sâu lắng của bản sắc dân tộc, cộng đồng Việt thể hiện một số đồng cảm nằm trong vô thức:

- Đồng cảm của con người với thiên nhiên, vũ trụ và thần linh.

- Đồng cảm của người sống với người chết.

- Đồng cảm với gia đình, họ hàng, làng xóm.

- Đồng cảm với đất nước và lịch sử.

Những mối đồng cảm cũng được thể hiện tập trung qua nghi lễ tập quán gốc bản địa hoặc ngoại lai nhưng ít đổi thay trong quá trình tiếp biến.

PV: Nếu vậy, trong các mối đồng cảm đó, đồng cảm của con người với vũ trụ sẽ là ngọn nguồn của Tết vì mùa xuân đánh dấu sự thay đổi của trời đất, từ lạnh lẽo bước sang ấm áp, mang lại cho con người niềm vui?

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Đúng thế. Tết Việt Nam là Tết của dân tộc nhà nông làm lúa gạo, quanh năm vất vả hơn những dân tộc làm lúa mì vì phải tưới nhiều nước, lại phải làm mạ rồi cấy lúa.

Đất Đồng bằng sông Hồng, cái nôi của văn hóa Việt Nam lại eo hẹp. Người dân quanh năm làm lụng, đến mãi cuối đông, bước sang xuân mới có thời gian rỗi và ăn Tết vui vẻ, không phải một ngày mà có khi nửa tháng, cả tháng.

Hình như trong ngôn ngữ các dân tộc, chỉ có nước ta nói "ăn" Tết; điều đó chứng tỏ nhân dân ta nói chung thiếu thốn nên Tết là một dịp để ăn (cho bõ lúc thiếu thốn) và vui chơi xả láng cho bõ những lúc chân lấm tay bùn. Đó là ý nghĩa thực tế của Tết ta, được tóm tắt trong câu ca dao: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Theo câu đó thì trong 6 yếu tố của Tết, 3 thứ nói về ăn: Thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh. Trong đó, 2 nguyên liệu quan trọng là bánh chưng và thịt lợn (thịt mỡ) không thể thiếu được trong ngày Tết.

Nhưng đó chỉ là phần vật chất, về phần tinh thần, thể hiện trước tiên là mối đồng cảm của con người với vũ trụ và thần linh, cảm thông trời đất và thần linh đã phù hộ cho con người được có thức ăn để sinh sống.

Tết đánh dấu sự cảm thông giữa con người và thiên nhiên bằng một tình cảm thiêng liêng, huyền bí, khiến con người tan biến, hòa nhập vào vũ trụ trong niềm hồ hởi tái sinh của mùa xuân. Tình cảm này mạnh mẽ đối với dân tộc Việt Nam hơn là đối với các dân tộc công nghiệp hóa phương Tây, vì tuyệt đại đa số người dân ta sống bằng nông nghiệp nên gần thiên nhiên hơn.

Tình cảm vũ trụ hồi sinh đã thấm nhuần tâm tư và hành động của cả một dân tộc trong mấy ngày Tết? Tết Việt Nam có một giá trị nhân văn hiếm thấy ở các nền văn hóa khác. Vạn vật tưng bừng khí xuân, con người cũng phải đổi mới, vui vẻ, thực hiện cái mới, cái hay, cái thiện, cái hài hòa, ít nhất trong vài ngày. Bài ca lạc quan, tin vào con người và nhân ái vang lên trong nhiều phong tục Tết cổ truyền. Trong gia đình, bố mẹ kiêng đánh mắng con cái, mẹ chồng khắt khe cũng dịu giọng với nàng dâu, anh chị em tránh cãi nhau, chủ nhà đối đãi tử tế với người ở. Trong xóm làng, không ưa nhau nếu gặp nhau cũng chào hỏi. Nợ nần không đòi vào ngày Tết. Khách lạ đến nhà cũng chào mời chén trà, miếng bánh. Những tục lệ khai ấn, khai bút, khai trương, hạ điền... nói lên ý nguyện làm ăn nghiêm túc trong năm mới.

Tết còn là một nhịp cầu nối hiện tại với dĩ vãng, người sống với người chết nên mới có sức mạnh huyền bí ấy? Trước Tết có nhiều gia đình đi tảo mộ. Nhà nào cũng lau dọn bàn thờ ông bà ông vải để đến nửa đêm Giao thừa cúng hương hoa và cả cỗ bàn, mời những thế hệ đã khuất về vui Xuân với con cháu trong mấy ngày. Quan niệm ông bà ông vải sẽ về trong dịp Tết, nên ai cũng muốn có mặt ở nhà để tỏ lòng thành kính tổ tiên. Nỗi khổ tâm của người Việt ly hương là những ngày này không thể về quê được. Tết là một yếu tố tăng cường và nhắc nhở ý thức gia đình, họ hàng và làng nước. Con cháu chúc mừng ông bà, bố mẹ, họ hàng, bạn bè; người làng hỏi thăm nhau. Tình làng nghĩa xóm mặn nồng thêm nhờ cúng lễ thần Thành hoàng của cộng đồng, kèm theo lễ hội có khi rải ra suốt ba tháng đầu năm.

Phải là người Việt Nam mới cảm nhận sâu sắc được Tết Việt Nam. Đây là sự kết tinh của bản sắc dân tộc với biết bao huyền thoại và sự tích như bánh chưng, trầu cau, Âu Cơ, Thánh Gióng, cây nêu, hái lộc, hoa đào,... được lưu truyền trong lễ hội Xuân.

Tết khơi lòng thiện

PV: Trong quá trình tiếp biến ấy, điều gì đổi thay của Tết hiện đại làm ông băn khoăn? Theo ông, cần phải làm gì để chúng ta giữ được bản sắc Tết Việt?

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Người Việt ta có một quan niệm rất hay: Từ năm cũ sang năm mới là quá trình vứt bỏ cái xấu xa của năm cũ, đón chào cái mới tốt đẹp. Đây là tín ngưỡng tốt mà tiếc rằng chúng ta đang dần dần đánh mất. Nhất là tục kiêng làm điều xấu trong dịp đầu năm, ít nhất là trong ba ngày Tết. Ví dụ như tục mừng tuổi, có hàm ý chúc khôn ngoan hơn. Rất tiếc, ta tiếp biến văn hóa thành ra việc mừng tuổi trở thành "phong bì".

Hay chuyện bánh chưng, đây là bản sắc dân tộc, trường tồn qua hàng nghìn năm. Tết đến, giàu nghèo ở Việt Nam đều không thể thiếu tấm bánh chưng. Nó là biểu hiện văn hóa tinh thần của người Việt với triết lý câu chuyện từ thời Hùng Vương. Tôi đi nước ngoài, thấy nhiều gia đình Việt kiều không có lá dong, phải gói bằng ni-lông. Nhưng bây giờ, ở thành phố và cả ở thôn quê, các gia đình dần ít nấu bánh chưng mà đi đặt hoặc mua bánh gói sẵn. Các cháu của tôi giờ không biết tập quán dân tộc này.

Hay tục thắp hương, một tục rất đẹp: Làn khói dâng lên, âm dương giao hòa. Thắp một nén hương là tâm hương, nếu dâng đức Phật là khơi lòng tĩnh, dẹp lòng trần, khơi lòng thiện... Giờ trước bàn thờ tổ tiên hay đi lễ chùa đầu Xuân, thắp hương loạn xạ, khói um lên, mất vệ sinh và tốn tiền. Tệ nhất của người cúng lễ là muốn hối lộ thần thánh. Người ta dâng lễ vật tốn kém mong phù hộ cho “nhất bản vạn lợi” (buôn lậu) hay thoát tù, thoát tội tham nhũng... Người ta vin vào “có thờ có thiêng”. Té ra thần thánh cũng ăn của đút à? Không có đồ sắm lễ thì người nghèo bị thần thánh bỏ quên à? Thần thánh mà cũng hủ bại như thế thì xin miễn cúng.

Thời đại toàn cầu hóa với những đổi thay chóng mặt của “viễn thông tin học” đòi hỏi chúng ta phải khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc bằng cách trở lại những truyền thống văn hóa một cách có lựa chọn. Thờ cúng tổ tiên chẳng hạn. Sự có mặt của bàn thờ ở các gia đình thờ cúng tổ tiên khiến cho đời sống tâm linh giàu hơn, cái ác bớt đi. Ở ta, người theo đạo Phật, đạo Lão hay cả người theo đạo Ki-tô, cán bộ-đảng viên theo chủ nghĩa vô thần... đều thờ cúng tổ tiên. Đó là mẫu số chung để thắt chặt cộng đồng dân tộc. Chúng ta cần giữ gìn những “mẫu số chung” như thế.

Nhưng cũng cần kiên quyết bài trừ những biến tướng núp danh truyền thống. Vì truyền thống cũng như văn minh, là sản phẩm của con người, nghĩa là không vĩnh viễn, có thể thay đổi. Văn minh ngày mai sẽ đi xa hơn “văn minh hiện đại” hôm nay. Chúng ta không bị buộc phải giữ lại mọi giá trị truyền thống, cũng như không thể nhắm mắt trước tất cả những thành tựu khoa học, xã hội, chính trị, tinh thần và đạo đức lớn lao. Chi phối được cái hiện nay (do được vũ trang bằng sự phê phán của hiện đại và truyền thống), tại sao ta không tạo ra những giá trị mới về Tết dựa trên cơ sở dĩ vãng? Muốn quyết định hiện tại phải nhìn về tương lai; mà muốn làm tốt tương lai, phải nhìn lại dĩ vãng.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

HỒNG HẢI - LIÊN VIỆT (thực hiện)