Đoạn tuyệt di sản kiềm chế

Trong suốt nhiều thập niên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nền tảng vận hành của cường quốc kinh tế số một châu Âu được định hình bởi hai trụ cột bất di bất dịch: Sự thận trọng tối đa về mặt quân sự và kỷ luật ngân sách mang tính tôn chỉ thông qua cơ chế phanh nợ hiến định. Trật tự đó từng giúp Berlin tối ưu hóa lợi ích thương mại trong giai đoạn hoàng kim của toàn cầu hóa, nơi thịnh vượng được nuôi dưỡng bởi nguồn năng lượng giá rẻ từ phương Đông và an ninh quốc gia được bảo trợ gần như vô điều kiện từ bên kia bờ Đại Tây Dương. Tuy nhiên, sự phụ thuộc kép ấy đã bộc lộ những điểm yếu khi các biến cố địa chính trị đương đại bùng nổ, biến nước Đức thành một thực thể dễ bị tổn thương trước mọi cú sốc từ bên ngoài.

leftcenterrightdel
Thủ tướng Đức Friedrich Merz. Ảnh: Atlantic Council

Khi bước chân vào Phủ thủ tướng, Friedrich Merz lập tức đối diện với một khó khăn: Sự dè dặt và những bước đi ngập ngừng không còn khả năng bảo đảm vị thế của Berlin. Với phong cách lãnh đạo quyết liệt và trực diện, ông nhận ra rằng nếu muốn duy trì ảnh hưởng thực chất và định hình luật chơi tại châu Âu, Đức không thể tiếp tục là một người khổng lồ kinh tế mang đôi chân quân sự yếu ớt. Sự thay đổi không chỉ dừng lại ở các tuyên bố ngoại giao mang tính biểu tượng mà đòi hỏi một "cuộc đại phẫu" toàn diện về tư duy chiến lược quốc gia.

Quyết sách mang tính bản lề đầu tiên của ông Merz chính là dỡ bỏ rào cản tài khóa để khai thông nguồn lực phát triển. Bằng việc thúc đẩy thành lập các quỹ ngân sách đặc biệt quy mô hàng trăm tỷ euro dành riêng cho quốc phòng và hiện đại hóa hạ tầng trọng yếu, chính phủ của ông Merz đã tạo tiền đề đưa mức chi tiêu an ninh vượt xa ngưỡng tiêu chuẩn của liên minh quân sự phương Tây. Động thái này khẳng định nước Đức sẵn sàng từ bỏ tâm lý thụ động, chấp nhận gánh vác trách nhiệm quốc phòng tương xứng với quy mô nền kinh tế và trực tiếp tham gia điều phối cấu trúc an ninh khu vực.

Thực dụng trên bàn cờ lớn

 Chiến lược đối ngoại của Friedrich Merz mang đậm dấu ấn của một tư duy kỹ trị và trực diện: Đặt lợi ích cốt lõi của quốc gia lên trên những tín điều mang tính hình thức. Trên trục quan hệ xuyên Đại Tây Dương, ông Merz duy trì cam kết gắn kết với các đồng minh phương Tây nhưng không ngần ngại xây dựng năng lực tự chủ chiến lược mạnh mẽ hơn cho Berlin. Việc chủ động gia tăng tỷ trọng nội địa hóa trong công nghiệp quốc phòng và ký kết các hợp đồng hợp tác khí tài quy mô lớn với những đối tác chủ chốt cho thấy Đức đang nỗ lực tạo lập vị thế đàm phán độc lập, giảm rủi ro từ những biến động chính trị luôn chực chờ ở Washington.

Ở hướng Đông, sự chuyển dịch trong chính sách đối ngoại của Berlin càng bộc lộ rõ nét tính toán thực dụng. Trong quan hệ với Bắc Kinh, chính quyền của Thủ tướng Merz khéo léo duy trì lộ trình giảm rủi ro kinh tế có trọng điểm thay vì chọn giải pháp đoạn tuyệt cực đoan. Đức công khai gây sức ép về các vấn đề mất cân bằng thương mại và chính sách trợ cấp công nghiệp, song mặt khác vẫn kiên quyết bảo vệ không gian thị trường sống còn cho các tập đoàn công nghiệp mũi nhọn của mình. Đây là sự cân bằng tinh tế nhằm bảo đảm Đức không bị cô lập khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu trong khi vẫn duy trì được quyền tự chủ về mặt công nghệ then chốt.

Tính linh hoạt của ông Merz còn được thể hiện rõ qua sự điều chỉnh chính sách đối với các cường quốc tại khu vực Trung Đông. Nhằm bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định và đa dạng hóa quan hệ đối tác chiến lược, Berlin đã nới lỏng những rào cản xuất khẩu công nghệ và quốc phòng sang các nước vùng Vịnh. Bằng cách đặt an ninh năng lượng và sự hợp tác địa kinh tế lên bàn cân bình đẳng với các chuẩn mực truyền thống, Friedrich Merz đã định hình lại chính sách đối ngoại của Đức theo hướng phục vụ trực tiếp cho sức mạnh vật chất và năng lực răn đe thực tế của đất nước.

Giới hạn của "cỗ xe tăng"

 Mặc dù đường hướng chiến lược được vạch ra một cách bài bản, tham vọng của Thủ tướng Friedrich Merz đang vấp phải những lực cản nội tại vô cùng lớn. Mô hình tăng trưởng truyền thống của Đức dựa trên xuất khẩu cơ khí, luyện kim và hóa chất đang suy giảm trước sức ép chi phí năng lượng cao và sự vươn lên mạnh mẽ của các đối thủ công nghệ từ châu Á. Việc dồn các nguồn lực tài chính khổng lồ vào lĩnh vực quốc phòng trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế suy yếu có nguy cơ tạo ra gánh nặng ngân sách dài hạn, nếu Berlin không thể nhanh chóng phục hồi năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số trong khu vực sản xuất.

Thách thức không kém phần nan giải nằm ở sự chia rẽ sâu sắc trong nội bộ chính trường và xã hội Đức. Sự chuyển dịch nguồn lực quốc gia sang các cam kết an ninh quốc tế đã làm dấy lên những bất bình về an sinh xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng chính trị dân túy và phe đối lập gia tăng ảnh hưởng, đặc biệt tại các bang miền Đông. Tâm lý lo ngại xung đột và sự phân hóa về quan điểm đối ngoại của cử tri đang đặt ra giới hạn khắt khe đối với mức độ kiên nhẫn mà xã hội dành cho những kế hoạch chi tiêu quy mô lớn của chính phủ.

Ở bình diện khu vực, sự trỗi dậy nhanh chóng của Đức về cả tiềm lực quân sự lẫn tầm ảnh hưởng chính trị đang làm dấy lên những e ngại ngầm từ các đồng minh lâu năm như Pháp và khối Nam Âu. Một nước Đức quá vượt trội có thể làm xáo trộn cán cân quyền lực truyền thống bên trong Liên minh châu Âu, biến bài toán điều phối chính sách chung trở nên phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối đầu nội khối hơn.

Friedrich Merz đã lựa chọn kéo nước Đức ra khỏi vùng an toàn lịch sử bằng một lộ trình cứng rắn, thực tế và không khoan nhượng. Khả năng cân bằng giữa tham vọng an ninh quốc tế với việc chấn hưng nền tảng kinh tế quốc gia sẽ là thước đo quyết định liệu Berlin có thể trở thành một cường quốc dẫn dắt thực thụ, hay sẽ tự đưa mình vào tình thế quá tải chiến lược trong một thế giới đầy biến động.

ĐỒNG NHIÊN