Được hay mất?

Tháng 1-1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO. Ngày 7-11-2006, WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng tại Giơ-ne-vơ (Geneva) để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO. Ngày 11-1-2007, WTO nhận được quyết định phê chuẩn chính thức của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Kể từ đây, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO.

Tròn 10 năm là một dấu mốc quan trọng để nhìn lại những gì WTO đem lại cho Việt Nam.

Ở bình diện chung của nền kinh tế, nếu xét về chỉ số quan trọng nhất-GDP-giai đoạn 2007-2016, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam “hụt hơi” đáng kể. Trong 10 năm qua, nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khoảng hơn 6,2%, thấp hơn khá nhiều so với giai đoạn 1996-2000 (7%) và 2001-2005 (7,51%). Nếu chỉ nhìn vào số liệu thuần túy, sẽ đem lại cảm giác tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam suy giảm mạnh. Tuy nhiên, cần nhìn vào thực tế là, giai đoạn 2007-2016 rơi đúng vào cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới tính từ sau cuộc Đại khủng hoảng 1929-1933. Chưa hết, cũng trong khoảng thời gian này, Việt Nam liên tục “dính” các thiên tai, dịch bệnh…

Trong bối cảnh những yếu tố bất lợi dồn dập đến, việc Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng hơn 6%/năm đáng được coi là một thành tích hơn là sự “thụt lùi”. Hơn nữa, nếu so với tốc độ tăng trưởng chung của thế giới, GDP của Việt Nam vẫn tăng ở mức cao, đứng vững trong tốp đầu.

Về hoạt động cải thiện môi trường kinh doanh, việc gia nhập WTO là một động lực quan trọng để Việt Nam chuyển dần từ phương thức quản lý Nhà nước can thiệp hành chính sang phương thức quản lý Nhà nước kiến tạo-tôn trọng quyền tự do kinh doanh, theo quy luật thị trường. Cùng đó, Việt Nam đã thực hiện các cải cách theo hướng minh bạch hóa, thuận lợi hóa và nhấn mạnh yếu tố hiệu quả trong vận hành bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế. Việc công khai minh bạch chính sách đã tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài đầu tư sản xuất. Điều đó được chứng minh qua việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nếu như trước khi gia nhập WTO, Việt Nam chỉ thu hút được khoảng 40 tỷ USD vốn FDI, thì đến hết năm 2015, tổng vốn đầu tư FDI đã lên đến gần 300 tỷ USD và được giải ngân lên đến gần 200 tỷ USD. Điều đó cho thấy, các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po (Singapore) và Mỹ..., nhất là các tập đoàn lớn, đều hướng đến Việt Nam. Nhờ đầu tư nước ngoài, Việt Nam được tiếp thu công nghệ, kỹ năng quản lý và mở rộng hàng hóa dịch vụ.

leftcenterrightdel

Biểu đồ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2007-2016 so với mức tăng trưởng bình quân của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. 

Việt Nam vẫn tiếp tục định hướng nền kinh tế phát triển dựa vào xuất khẩu. Định hướng đó hoàn toàn phù hợp với xu hướng hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Và trong 10 năm qua, hoạt động xuất, nhập khẩu đã đạt được những kết quả vượt trội nhờ mở rộng thị trường. Trong đó, điều đáng mừng nhất là cán cân thương mại của Việt Nam sau nhiều thập kỷ bị thiên lệch về hướng nhập siêu nay đang cân bằng trở lại. Năm 2012, Việt Nam đã có thặng dư thương mại hơn 700 triệu USD. Sau năm 2013, nhập siêu khoảng 500 triệu USD, đến năm 2014 lại xuất siêu 2,337 tỷ USD. Năm 2015, Việt Nam nhập siêu 3,5 tỷ USD, sang năm 2016 lại xuất siêu 2,68 tỷ USD. Nhập siêu giảm là một trong những tác nhân quan trọng giúp nền kinh tế Việt Nam giảm áp lực tăng tỷ giá và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Ngoài ra phải kể tới sự thay đổi nhanh chóng của các doanh nghiệp trong nước. Từ tư thế của những “kẻ thụ động” chờ đợi những đơn hàng đến từ bên ngoài biên giới, sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp “nội” đã chủ động hội nhập với sân chơi toàn cầu và cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp nước ngoài.

Trên các lĩnh vực khác, 10 năm qua, giáo dục đào tạo, dân số, việc làm và giảm nghèo, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường và các hoạt động văn hóa xã hội khác đều đã đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc phát triển bền vững, nâng cao từng bước đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Việc thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô bảo đảm an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước đã giảm bớt khó khăn cho người dân, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và giữ vững ổn định chính trị, xã hội.

Vẫn còn những nút thắt

Sau 10 năm hội nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển đáng ghi nhận. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này chưa được cải thiện nhiều. Đặc biệt, mô hình kinh tế còn những vấn đề đáng quan tâm. Trong giai đoạn 2007-2016, mặc dù Việt Nam luôn duy trì được mức tăng trưởng khá cao, nhưng để đạt được mức tăng trưởng đó, tổng đầu tư cho phát triển luôn ở mức cao (30-46,5%), cao hơn nhiều so với các nước khác. Bên cạnh đó, năng suất lao động Việt Nam còn thấp, đóng góp vào tăng trưởng còn hạn chế. Trong công nghiệp, ngành khai thác, gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, việc sử dụng công nghệ tiên tiến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao còn rất thấp, làm cho trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt tỷ trọng giá trị gia tăng thấp. Nông nghiệp tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng tỷ lệ hàng nông sản qua chế biến còn thấp. Việc đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn chậm, chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp còn nhiều bất cập…

Những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam đến từ 3 nút thắt cơ bản. Trong đó, nút thắt đầu tiên là cơ sở hạ tầng. Nhìn nhận khách quan có thể nói, cơ sở hạ tầng của Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc song so với yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì còn nhiều hạn chế và bất cập. Nút thắt thứ hai là chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, tuy nhiên, năng suất lao động lại rất thấp. Theo đánh giá vừa được Tổng cục Thống kê đưa ra, năng suất lao động bình quân năm 2016 của Việt Nam là 3.853USD/lao động. Con số này đã tăng so với mức 3.660USD của năm trước nhưng chỉ bằng 4,4% so với người lao động của Xin-ga-po, 17,4% của Ma-lai-xi-a (Malaysia), 32,5% của Thái Lan, 48,5% của Phi-líp-pin (Phillipines) và 48,8% của In-đô-nê-xi-a (Indonesia).

Nút thắt thứ ba của nền kinh tế Việt Nam là vấn đề tư duy. Thay đổi tư duy là một trong những nhân tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thực tế phát triển của các nước trên thế giới và thực tiễn Việt Nam đã cho thấy: Các nguồn lực tự nhiên, kinh tế-xã hội là tiền đề quan trọng nhưng tư duy lại là nhân tố quyết định sự thành công. Việt Nam từ một đất nước hằng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới và đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế-xã hội. Đó là nhờ sức mạnh của tư duy đổi mới. Trước và sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã có nhiều cải cách theo hướng công khai hóa, minh bạch hóa nhưng vẫn chưa đủ. Trên thực tế, Việt Nam vẫn cần tiếp tục bổ sung và hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra một môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh của các thành phần và chủ thể kinh tế.

Để “tháo” ba “nút thắt” của nền kinh tế Việt Nam, cần phải có những cải cách đột phá, trước hết tập trung tiếp tục cải cách hành chính triệt để, khắc phục những mặt trái của cơ chế “một cửa”, đổi mới bộ máy hành chính nhà nước cương quyết và hiệu quả. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, làm minh bạch, lành mạnh hóa môi trường kinh doanh. Thứ hai chính là vấn đề lao động. Ở góc độ đào tạo, cần có những dự báo mang tính chất dài hơi về nhu cầu nguồn nhân lực. Để từ đó, các cơ sở giáo dục thay đổi mô hình cũng như phương pháp đào tạo phù hợp. Ở góc độ sử dụng, cần tạo dựng những môi trường lao động chuyên nghiệp, tạo điều kiện cho người lao động phát huy được tối đa khả năng của mình.

Để “đối phó” với nút thắt cơ sở hạ tầng trong bối cảnh năng lực còn nhiều hạn chế, cần tập trung đầu tư có trọng điểm, giải quyết trước những điểm nghẽn trầm trọng. Điều này cần sự xem xét, đánh giá khách quan thay vì cơ chế “bình quân chủ nghĩa” trong phân bổ ngân sách đầu tư.

Ngoài việc tập trung giải quyết ba nút thắt trên, để nền kinh tế Việt Nam phục hồi tốc độ tăng trưởng cao, cần xây dựng chiến lược phát triển các ngành dịch vụ cơ sở hạ tầng, trong đó, vấn đề cốt lõi là tái cơ cấu các doanh nghiệp, các loại dịch vụ cơ sở hạ tầng theo hướng tập trung những dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, các dịch vụ có giá trị gia tăng cao và phát triển logistics xanh, nhằm tận dụng hiệu quả các cơ hội mang lại từ hội nhập. Cùng đó, nâng mức đầu tư cho khoa học công nghệ để Việt Nam sớm có những đột phá về khoa học công nghệ, tạo ra những mặt hàng, những sản phẩm kỹ thuật cao trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực mang lại giá trị cao cho xuất khẩu của Việt Nam. Mặt khác, cùng với việc đổi mới thể chế, hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, cần có các biện pháp để chuyển dần từ gia công sang sản xuất, xuất khẩu, giảm và tiến tới hạn chế mức thấp nhất xuất khẩu sản phẩm thô, khoáng sản; tăng xuất khẩu sản phẩm tinh chế, có hàm lượng khoa học-công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao.

HUY ĐĂNG