Cúi xuống chum nước, mấy cánh đào phai rụng rơi đầy. Những vảy hồng lấp lánh làm lão nhớ những ngày gian lao nhưng vui vầy ở sơn trại Phồn Xương. Rét thế này thấm gì so với núi rừng Yên Thế!

Chiếc gáo dừa múc lên làn nước lạnh băng, lẫn mấy cánh đào hồng nhạt. Nước chảy tràn bàn tay vuông vức, to bè, vỗ lên khuôn mặt rậm rì râu quai nón. Lão ngẩng đầu, nhìn về phía sông Lô xa xa. Bên kia bờ là núi Sáng xanh ngắt, trải dài tựa chiếc lưỡi hái nằm ngược. Lão khe khẽ ngâm nga: Sáng ra trông núi Sáng hờ ơ hờ.../ Nhìn hoa vàng lại nhớ Hoàng Hoa...

Bọn tuần đinh đi qua thường nghe lão hát câu này.

Ông trương tuần Bích có nghe lão hát câu này.

leftcenterrightdel
Minh họa: LÊ ANH

Lý trưởng thì chưa nghe thấy lần nào, nhưng được thuộc hạ báo lại cả trăm lần, nên cũng thuộc câu hát này. Họ tin chắc lão Tẻ là tàn quân của Đề Thám, mới vỡ trận bên núi Sáng mấy năm trước.

Dân làng Đá Rống năm ấy thấy một gã trung niên, người cao lớn vạm vỡ, lưng quảy tay nải đến xin tá túc trong quán nước đầu làng. Ông ta nói gia đình ly tán, phải đi tìm việc làm thuê. Đang mùa trồng sắn, mấy nhà phú hộ cần người cuốc đất, thế là gã kiếm được cơm ăn. Kẻ ngụ cư không xưng tên, cũng chả ai hỏi han điều đó. Làm khỏe, ăn khỏe, nhưng ưa món nếp. Cơm nếp càng quý, còn xôi sắn pha chút gạo nếp thì càng thích. Đi làm thuê, lúc nào gã cũng xách theo mo xôi sắn trộn nếp bằng bắp đùi. Mọi người gọi lão là ông Giảm Tẻ, sau gọi tắt cho gọn là lão Tẻ, bác Tẻ, anh Tẻ…

Lão Tẻ ngày đi cuốc đất thuê, đêm về dạy võ cho mấy chú trai làng. Hồi ấy trộm cướp như trấu, đội dân vệ của làng nhờ võ của lão Tẻ mà đuổi được mấy toán cướp. Bởi vậy lý trưởng cũng nể, không báo lên quan Pháp mấy câu hát của tàn quân Hoàng Hoa Thám. Chuyện đến tai chánh tổng Lai, cụ cũng khuyên lý trưởng: “Thôi! Cứ để ngụ trong làng phòng khi hữu sự”. Thực tình thì các cụ cũng ngại sức vóc và thập bát môn võ nghệ của lão Tẻ. Con trâu đực điên bên làng Chò húc ngã mấy người, trai tráng vứt bỏ nùi lửa, thang tre chạy tán loạn. Một mình lão Tẻ dám đón đầu, cầm hai sừng trâu quật đánh oạch một cái. Con trâu chết ngắc. Vậy thì đám trương tuần lẻo khoẻo vì thuốc phiện là gì với nó?

Chị thẽm Hợi mới sáng ra đã mang đến cho lão Tẻ đĩa bánh chưng rán. Chị thẽm cười cười: “Nhà bác xơi cho nóng. Hôm nay em có nồi bánh chưng sắn, lúc nào cày xong mời bác dùng bữa”. Lão Tẻ cặp mắt sáng rỡ. Gì chứ bánh chưng sắn là món khoái khẩu của lão. Chị thẽm lại cười cười, hàm răng hạt na đen nhức: “Rét mướt thế này nằm mình lạnh chết. Sao bác không đón một đám về ở chung?”. Lão Tẻ cầm ngang đôi đũa chùi mép. “Nay đây mai đó, ở với ai cho khổ người ta thêm”. “Nhiều người muốn khổ với nhà bác mà không được đấy”. “Ai mà rồ dại thế?”. Chị thẽm bỏ đi, chép miệng: “Rồ dại thế nên mới khổ bác ạ!”. Lão Tẻ nhìn theo, thở dài. Gái một con. Chồng làm sơn tràng chết ngã nước. Mấy đám đánh tiếng rồi sao không đi lấy chồng cho đỡ khổ?

Ngoài đình thùng thùng trống ngũ liên. Ba ngày nay làng mở hội vật. Năm nay giải to lắm, hẳn một con bò mộng. Lý trưởng sức giấy mời các đô vật khắp nơi về giật giải. Cũng có người nhắc đến lão, lý trưởng gạt đi: “Nó là dân ngụ cư. Không được!”.

Tiếng trống hội vật tắt ngủm. Chắc hội xong rồi. Không biết năm nay đô vật nào giật giải. Thây kệ. Lão cắm cúi cày, miệng ư ử: Sáng ra trông núi Sáng hờ ơ hờ.../ Nhìn hoa vàng lại nhớ Hoàng Hoa...

“Bác Tẻ! Ới bác Tẻ!”. Tiếng người gọi gấp gáp. Nhìn lên bờ thấy mấy chú tuần đinh tay thước, tay gậy đứng lố nhố. Lão Tẻ chột dạ. Trương tuần Bích khăn quấn đầu xổ tung. “Ới bác Tẻ! Lý trưởng và các cụ trong làng bảo tôi ra kêu bác về ngay. Làng mất giải tới nơi rồi...”. Lão Tẻ quay lại cầm cày. Trương tuần Bích cuống lên, chạy theo. “Các cụ mời bác về giữ giải cho làng, chứ ai bắt vạ nhà bác!”. Lão Tẻ dừng đôi bò, bước lên bờ. “Sới nào mà tợn thế?”. Bọn trương tuần tranh nhau kể. Rằng thì là, năm nay không ngờ có đô vật bên sới Đoài một mình chèo thuyền qua sông thách đấu. Thấy mọi người gọi nó là ông “Trâu con”. Nó khỏe lắm bác ạ. Đô Trượng làng ta sức mạnh là thế, vừa mới bắt tay tư xong, nó đã cho ngã kềnh. Lão Tẻ gãi đầu: “Nhà cháu võ vẽ dăm ba miếng phòng thân. Thôi để nhà cháu cày cho xong, kẻo chị thẽm Hợi trừ công thì chết!”. “Không! Nhất định bác phải về. Sắp hết giờ Tỵ rồi. Thằng “Trâu con” đang ngồi khoanh chân giữa sới. Chỉ chờ sang Ngọ là nó dắt bò xuống thuyền”.

Lão Tẻ tháo bò, dắt lên bờ...

Bãi cỏ trước sân đình đông nghịt người. Cây đa cổ thụ ba thân chống xuống đất, cành lá xum xuê che kín một góc bãi. Người ta dùng cây tre đóng cọc cao ba thước, buộc gióng ngang xung quanh thành cái sới vật rộng chừng mười thước vuông. Giữa sới, lù lù một thân người to lớn ngồi chồm hỗm. Những ánh mắt thán phục pha lẫn uất ức chiếu vào kẻ ngạo mạn.

Nghe tin lão Tẻ ra đình, lý trưởng lật đật chống gậy bước ra: “Anh Tẻ! Nếu nhà anh giật lại giải vật cho làng, nhất định làng cưới vợ cho!”. Lão Tẻ không nói năng gì, lấy khố ra đóng. Lão thuận tay vít cành đa thấp bằng bắp chân, định vắt chiếc áo lên. Cành đa gãy răng rắc. Mọi người trợn mắt nhìn. Trong sới, đô “Trâu con” cười mỉm. Lão Tẻ vừa khoanh tay cung kính vái dân làng, đô “Trâu con” cũng uể oải đứng dậy...

Trống ngũ liên lại thúc lên từng hồi. Dân làng lại bu đen bu đỏ quanh sới vật. Lũ trẻ con cãi nhau chí chóe, cố len vào đứng sát hàng rào tre. Lâu nay dân làng biết một lão Tẻ cày thuê cuốc mướn, chưa ai được nhìn thấy thân thể của lão. Tấm thân trung niên vạm vỡ, múi thịt cuồn cuộn làm đô “Trâu con” phải giật mình cảnh giác. Trống giục hai đô vật so đài. Đô “Trâu con” xuống tấn, khuỳnh chân, múa tay đi một lượt so đài đẹp mắt. Lão Tẻ khoanh tay trước ngực, đứng nhìn. Lý trưởng đứng trên sân đình, chọc chọc cây ba toong lo lắng...

Trong sới, hai đô vật đang bắt tay tư. Lão Tẻ nắm bắp tay đối thủ, thấy gân cốt khá chắc. Lão hít một hơi, vận sức, rồi khẽ đẩy “Trâu con” về phía sau. “Trâu con” lùi lại một bước. Lão Tẻ lại lôi đối thủ về phía mình, mỉm cười, ghé tai “Trâu con” hỏi nhỏ: “Nhà anh muốn ngã nặng hay ngã nhẹ đây?”. “Trâu con” mím môi: “Tùy sức nhà anh!”. Lão Tẻ gật đầu, chuyển thế. Đô “Trâu con” nhanh như cắt bước sang phải, dùng chân trái tạt khoeo lão Tẻ. Lão xoay người tránh được. “Trâu con” buông hai tay khỏi vai lão, luồn nhanh xuống ôm chặt thắt lưng đối thủ. Đầu “Trâu con” cúi thấp, chỏi vào vồng ngực lão Tẻ, hai tay siết mạnh. Với miếng này, nếu đối thủ trụ không chắc sẽ bị quật ngửa. Nhưng lão Tẻ xuống tấn rồi. Gót chân phải của lão đạp lên một chiếc rễ đa trồi lên mặt đất. Chiếc rễ gãy tan, lún xuống cả tấc. “Trâu con” lại thốc cánh tay phải qua đùi lão Tẻ, định bốc lên. Lão Tẻ nghiến răng, nắm chặt eo “Trâu con” nhấc cao ngang đầu. Vèo một cái, lão ném “Trâu con” về phía sau. Đô “Trâu con” bay qua hàng rào, rơi xuống đất, lộn mấy vòng...

Tiếng hò hét, tiếng vỗ tay dậy lên như sấm. Lý trưởng quên cả thể diện, nhảy choi choi giữa sân đình, đôi guốc mộc văng mỗi chiếc mỗi nơi. Sau hội vật đó, lão Tẻ được làng công nhận là dân Đá Rống chính thức. Lý trưởng giữ lời hứa, đi hỏi vợ cho lão. Chẳng phải ai xa lạ, chính là chị thẽm Hợi.

Năm Ất Dậu đói khủng khiếp. Thây người nằm rải rác theo đường cái. Làng Đá Rống không có người chết đói vì còn hai cánh rừng. Măng tre, măng nứa, củ chuối rừng, củ mài… cứu sống dân làng. Mẹ con nhà Hợi nhờ có ông chồng hộ pháp mà ăn uống cũng khá hơn. Bây giờ người ta gọi chị là “chị cu”, vì đã sinh thêm thằng con trai với lão Tẻ.

Buổi chiều hôm ấy, cả làng như vỡ chợ. “Bớ làng nước ơi! Người ta phá kho thóc Nhật dưới ga Tiên Kiên rồi!”. Cả làng sôi sùng sục. Những dáng người lảo đảo, chạy ngược xuôi dáo dác. Tiếng đàn ông, đàn bà giục giã. Tiếng trẻ con kêu khóc. Những người còn chút sức lực bắt đầu tập trung kéo về Tiên Kiên. Người mang quang gánh, kẻ đội thúng mủng, có người mang bao tải. Nhà nào rách quá thì mấy chiếc rá hay nón lá cũ. Họ nhập vào đoàn người đi phá kho thóc...

Lão Tẻ bảo vợ ninh cho một nồi củ chuối, lão chấm với muối ăn tròn bụng, rồi nhảo một mạch xuống ga. Người ở đó đông như kiến cỏ, bụi bốc mù trời. Từng hàng bao thóc xếp cao ngất tận mái kho. Mấy gã đàn ông trèo tót lên cao, lăn từng bao thóc xuống. Mấy mụ đàn bà lúi húi hốt thóc đổ bên dưới. Chân đống bao thóc bị moi thành hàm ếch, phía trên bất ngờ ụp xuống. Tiếng người la hét lẫn trong bụi mù ngạt thở. Có tiếng đàn bà nheo nhéo kêu cứu trong đống bao thóc, nhưng chẳng ai để ý. Lão Tẻ xông vào, ghé vai nhấc cả bao thóc một tạ lên, loạng choạng bước ra. Đến gần sáng thì lão về đến nhà, ném bịch bao thóc xuống đất, ngồi lên trên thở dốc. Sáu con mắt sáng rực của vợ con nhìn vào bao thóc.

Sáng hôm sau, lão Tẻ đang trần lực giã cối gạo đầu tiên thì nhà có khách. “Thưa thầy, thầy có khỏe thường không ạ?”. Lão quệt mồ hôi, ngước lên. Hai người đàn ông đội mũ nan, đeo túi dết, quần áo nâu buộc túm cổ chân, đứng trước cổng. Lão Tẻ nhận ra hai học trò mình từng dạy võ. “Ồ! Anh Tâm, anh Quyết. Lâu nay bỏ đi đâu tôi không gặp?”. “Chúng con theo Việt Minh kháng chiến thầy ạ”. Sẵn có gạo, chị cu Hợi nấu cơm đãi khách. Cơm trắng ăn với muối ớt mà thấy ngon hơn cả yến tiệc. Hai người học trò nói chuyện về đường lối đoàn kết nhân dân chống Pháp của Việt Minh. Họ nói với lão Tẻ: “Nếu có thầy hướng dẫn, chắc lực lượng Việt Minh có thêm sức mạnh để đánh Pháp”. Không biết Việt Minh là thế nào, nhưng nói đến đánh Pháp là lão Tẻ ưng ngay. Chẳng phải một thời lão theo cụ Đề Thám làm việc đó hay sao. Lão dặn vợ ở nhà cố nuôi hai đứa con, đừng để chúng đói khổ. “Tôi theo Việt Minh, khi nào hết giặc mới về”. Chị cu Hợi nước mắt lã chã, lẳng lặng chuẩn bị cho chồng một ruột tượng đầy gạo. Hôm sau, lão Tẻ theo hai người kia ra đi... Mấy năm sau, nghe tin quân Pháp đại bại ở Điện Biên Phủ. Những người làng theo kháng chiến lác đác trở về. Nhưng hai anh Tâm, Quyết và lão Tẻ thì vẫn biệt tăm. Chị cu Hợi dắt hai đứa con ra đầu làng ngóng chồng. Suốt ba năm trời không thấy bóng dáng lão Tẻ trở lại. Người làng bảo chị, không khéo lão Tẻ chết rồi. Chị nhất định không tin, không chịu.

Cuộc sống dần dần ổn định. Làng xóm dần dần đổi thay. Khi làm khai sinh cho con trai đến tuổi đi học, chị cu Hợi chợt nhớ chưa bao giờ hỏi họ tên thật của chồng. Quen miệng theo dân làng, chị cứ gọi chồng là “ông Tẻ”. Chợt nhớ câu hát ngày xưa của chồng: Sáng ra trông núi Sáng hờ ơ hờ.../ Nhìn hoa vàng lại nhớ Hoàng Hoa... Chị cu Hợi bèn lấy họ Hoàng cho chồng, đặt tên con là Hoàng Văn Nếp, cũng là để nhớ cái sở thích cơm nếp của cha nó...

Cây đa trước sân đình vẫn um tùm tỏa bóng. Từ nơi cành đa bị lão Tẻ bẻ gãy năm làng có hội vật, đã mọc thêm một cái rễ to khỏe, cắm thẳng xuống đất.

Truyện ngắn của PHÙNG PHƯƠNG QUÝ