Người ta gọi vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là “châu thổ xanh”, hay là nơi “đan khuông nhạc bằng những dòng kênh”. Một dải đất phì nhiêu chỗ nào cũng ngút ngàn màu xanh của cây lá. Làng xóm, ruộng đồng nằm trong vòng tay ôm ấp của những dòng sông, những con kênh nhiều tôm cá. Dù ví, dù gọi thế nào thì vùng đất màu mỡ được bồi đắp bởi hệ thống sông Mê Công cũng luôn gieo vào lòng người những kỷ niệm khó quên, những ký ức để đời. Một trong những kỷ niệm, những ký ức ấy là mùa nước nổi.

Dòng Mê Công bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng (Trung Quốc), chảy qua Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông trên địa phận của Việt Nam bằng 9 cửa sông. Cũng chính vì thế, người ta gọi miền Tây Nam Bộ bằng cái tên thân thương: Mảnh đất Chín Rồng. Và sông Mê Công đoạn chảy qua nước ta cũng được gọi là sông Cửu Long, hay Cửu Long giang. Vào khoảng tháng 8 đến tháng 11 hằng năm, nước từ thượng nguồn thường đổ về đầy ắp trên hệ thống sông Cửu Long bằng hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu. Nước từ hai nhánh sông này lại tràn ra những nhánh khác và đổ vào ruộng đồng, biến nhiều nơi của vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp Mười thành biển nước.

Nước tràn đồng là một hiện tượng lũ lụt, nhưng không phải là thiên tai. Người dân vùng trũng ven sông Tiền, sông Hậu gọi hiện tượng này là mùa nước nổi, mùa của những công việc mưu sinh, để được ăn, được ngủ, được thao thức, được hò ca trên mặt nước đỏ quạch phù sa.

Nước đổ về, đánh thức những bông điên điển chúm chím hé nở vàng rực ven bờ đê, mé sông và ven các kênh rạch. Các thiếu nữ vùng lũ thì lại nói, đó là bông điên điển gọi nước về đồng. Đi đến các huyện: Hồng Ngự, Tân Hồng (Đồng Tháp); Tân Châu, Tân Phú, Châu Đốc (An Giang); hay Tân Hưng, Vĩnh Hưng (Long An)... mà ngỡ như đi giữa mùa xuân của đồng nội. Bông điên điển nở rạng rỡ đến nỗi người ta đã nâng nó lên một tầm mới như một sự đổi thay của đất trời, gợi mở đầy chất thơ: "Mai vàng" mùa nước nổi.

leftcenterrightdel
Mưu sinh mùa nước nổi. Ảnh: TRUNG DŨNG 
Mùa nước năm 2000, tôi về Hồng Ngự diễn tập phòng, chống thiên tai cùng lực lượng của Trung đoàn Không quân trực thăng 917. Năm ấy, nước tràn bờ bãi. Những cánh đồng của các xã: Thường Thới Hậu A, Thường Thới Hậu B, Thường Thới Tiền và Thường Phước 1, nước mênh mông như biển cả. Bay trên độ cao 200m mà cảm giác như được bơi trên màu phù sa, được tắm trong màu vàng như tơ tằm của bông điên điển. Nhìn thấy những cô gái mặc áo bà ba chèo ghe chở đầy hoa vàng mà muốn sà cánh bay cùng, hò cùng họ vài điệu hò Đồng Tháp. Những cánh bay của chúng tôi thực hiện nhiều khoa mục theo tình huống giả định đưa ra. Nào là bay thả hàng cứu trợ, thả thực phẩm, nước uống, cứu vớt người trên dòng nước; nào là cứu thương, chỉ đường cho lực lượng mặt đất tìm kiếm, cứu nạn, thả phao... Bay trong chấp chới những cánh tay vẫy dưới mặt đất mà cứ ngỡ như mình đang được nâng tiếp lên, bồng bềnh trong tình cảm yêu thương dạt dào của sông nước miền Tây.

Sau cuộc diễn tập tìm kiếm, cứu nạn trong lũ, tôi ở lại Hồng Ngự ba ngày. Trong một bữa lai rai lẩu bông điên điển với cá linh, anh Tư Hoan là dân quân ở thị trấn Hồng Ngự hỏi vui: “Nè em! Có vợ chưa? Muốn làm rể vùng lũ hông dzậy?”. Đang có trớn bông đùa, tôi hào hứng: “Muốn chớ! Em muốn được chèo ghe chở vợ đi hái bông điên điển mỗi sớm mai nè!”. Nghe vậy, dì Tám Ngoan đang sớt thêm bông điên điển và cá linh vô đĩa để đưa lên cười lớn: “Làm rể ngoan thì được, chớ làm rể điên điển thì không xong đâu nhen”. Mọi người cười nghiêng ngả, còn tôi thì ngơ ngác không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Làm thêm vài ly đế nữa, tôi mới hiểu vì sao người vùng lũ lại nói là "rể điên điển".

Chả là cây điên điển gần giống như cây muồng ngoài Bắc. Cây thân gỗ, bắt lửa là cháy bùng bùng. Mọc ở mép nước hay giữa bưng, rễ điên điển bám vào đất rất nông. Người khỏe có thể nhổ cả một cây lớn lên khỏi đất. Riết rồi ở miền Tây, cái gì không được tốt, cái gì không được bền, người ta hay so sánh với rễ cây điên điển. Nói riết, lâu dần dấu ngã thành dấu hỏi, từ “rễ” thành từ “rể”, chủ yếu dùng để kêu mấy người rể hèn là "rể điên điển". Mấy cậu con trai lấy được con gái nhà lành nhưng không yêu thương vợ con, xa lánh họ hàng nhà vợ, lại lêu lổng ăn chơi, đua đòi, lòng dạ dễ đổi thay, thì bị người miền Tây gọi là “rể điên điển”.

Mấy buổi la cà ra chợ, rồi xin theo người dân đi hái bông điên điển, tôi lại nghe được một cái tích về loài hoa đặc trưng của mùa nước nổi. Người già ở Đồng Tháp nói rằng, ngày xưa xa lắm, có một chàng trai nghèo nhà gần sông Hậu, đem lòng thương yêu cô gái xinh đẹp, nết na con một nhà giàu có bên dòng Hậu Giang. Hai người thương nhau đến nỗi chàng trai đêm nào cũng chèo thuyền xuyên con kênh nhỏ từ sông Tiền qua sông Hậu để gặp người yêu. Một lần, cha cô gái bắt gặp hai người trò chuyện trên bưng trong mùa nước nổi, đã bắt cô ở nhà, không cho gặp người con trai nghèo nữa.

Để gặp được người yêu, chàng trai phải giả làm người bán cá. Đến rao cá hoài ở cổng nhà người yêu, anh cũng bị lộ tẩy. Cha cô gái cho người bắt nhốt chàng trai vào một cái cũi, rồi đưa ra mé sông. Một đêm khuya, cô gái trốn được ra ngoài rồi tìm đến được với chàng trai đang đói khát trong chiếc cũi. Cô tìm mọi cách mà không thể nào cứu anh ra được. Khi người nhà phát hiện nổi trống, đốt đèn ra sông bắt cô về thì người thiếu nữ ôm cả chiếc cũi nhốt chàng trai lăn xuống sông Hậu. Cả làng hò nhau đi tìm xác hai người suốt cả tháng trời mà không thấy. Nhưng điều lạ là trên cánh đồng bỗng dưng xuất hiện một loài cây mới. Cây này mọc dưới mép nước, tươi tốt và trổ bông vàng rộm. Từ một cây, nó đẻ ra nhiều cây, nhiều nhánh. Nước tràn tới đâu là cây mọc và trổ bông tới đó. Rồi trên bưng cũng xuất hiện một loài cá nhỏ, to và dài bằng ngón tay trỏ. Loài cá này sinh sôi chóng mặt, chúng quấn quýt lấy gốc cây hoa vàng mà bơi, mà lượn. Những người có uy tín trong làng nói là cô gái đã biến thành cây có hoa vàng, còn chàng trai thì biến thành loài cá nhỏ. Cho rằng cái chết của đôi trai gái yêu nhau rất linh thiêng, nên người dân đặt tên cho loài cá là cá linh, còn cây hoa vàng là cây điên điển.

Ở vùng Đồng Tháp, An Giang lại tương truyền câu ca dao: Nước không chưn sao kêu nước đứng/ Cá không thờ sao gọi cá linh. Trong tập san Excursions et Reconnaissances (Du khảo và Thám hiểm) in tháng 6-1885 có kể về sự tích cá linh liên quan đến cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn. Khi Nguyễn Ánh ngồi trên thuyền từ Vàm Nao (tiếng Miên là "pàm prêk nàv", con sông phân chia giữa Long Xuyên và Châu Đốc) định ra biển vì bị quân Tây Sơn truy đuổi, thì thấy một loài cá nhảy vào thuyền nên sinh nghi không đi, sau mới biết nếu đi thì sẽ chết bởi quân Tây Sơn đã phục binh tại Thủ Chiến Sai (thuộc An Giang) chờ bắt. Vì vậy, Nguyễn Ánh mới đặt tên cho loại cá này là cá linh để tri ân.

Sự tích về bông điên điển và cá linh thực hư thế nào thì chưa biết, nhưng nếu mùa nước nổi thưởng thức món lẩu, hay món canh chua cá linh mà thiếu bông điên điển thì chẳng khác gì ăn cơm không có mắm muối. Hơn nữa, ăn loại này mà ăn một mình thì buồn thấu tim gan. Chả thế mà người vùng lũ hay nói: Canh chua điên điển cá linh/ Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon.

Bông điên điển có vị nhẫn, bùi, ngọt, giòn. Khi hái về, bông điên điển được tuốt nhẹ, có thể trộn ghém ăn sống, hoặc nhúng lẩu, nấu canh chua, ăn kèm với bún, hay đổ bánh xèo... đều hấp dẫn. Nhưng bông điên điển nhúng với lẩu cá linh tạo ra một vị rất đặc trưng của miền Tây Nam Bộ. Cái vị chua chua, ngọt ngọt, thơm nồng, như vị tình yêu của đôi trai gái ngày xưa bên bờ sông Hậu. Canh chua cá linh với bông điên điển, hay bông súng, luôn có trong những bữa ăn hằng ngày của các chiến sĩ trên địa bàn Quân khu 9. Họ thường nói vui rằng mê món này còn hơn cả mê người yêu.

Không chỉ tôi, mà bất cứ ai “lạc” vào mùa nước nổi của vùng sông nước Cửu Long đều ngất ngây, mê mẩn, nghiêng ngả như mê cô gái Nha Mân của Đồng Tháp, hay cô gái Chăm ở vùng Tân Châu (An Giang). Một lần, chị Tư Thương ở gần đập Trà Sư nói với tôi rằng: “Hái bông điên điển cũng là một nghệ thuật đó nhen”. Bông điên điển phải hái từ sáng sớm khi nó vừa chúm chím nụ. Nếu hái muộn, bông nở to, hết tươi và ăn mất ngon. Lúc hái bông phải nhẹ nhàng, vuốt ve, thong thả, nếu không sẽ làm gãy cây hoặc nát bông. Chu cha, bông điên điển mùa nước nổi mà người dân nâng niu như một báu vật, quả là ấn tượng. Nghe chị Tư Thương nói mà tôi thấy yêu, thấy mến và trân trọng ngay chính bàn tay của những người đi hái bông điên điển. Chắc những thiếu nữ miền Tây phải có đôi bàn tay mềm, ấm và dịu dàng lắm mới dám đi hái bông điên điển.

Mùa này ở vùng lũ, nhiều người chịu khó hái bông điên điển cũng kiếm được từ 150.000 đến 200.000 đồng mỗi ngày. Bây giờ không ít người còn thuê đất để trồng cây điên điển, kết hợp với nuôi trồng thủy sản. Còn những người giỏi đặt lọp, giăng lưới bắt cá linh, cua đồng và các loại thủy sản khác thì thu nhập còn “ngất ngưởng” hơn nhiều. Ví như anh Trần Văn Phong ở xã Vĩnh Hội Đông, huyện An Phú (An Giang) chẳng hạn. Buổi tối anh đi đặt 100 cái lọp, rồi cùng đám chài lưới trong ấp ra bưng giăng cá linh. Mỗi buổi sớm mai, các bà vợ thi nhau gánh cua, cá ra chợ bán, có người còn dùng cả vỏ lãi đưa thủy sản bắt được xuống tận Long Xuyên bỏ cho thương lái cho được giá. Một ngày mà thu được hơn một triệu đồng thì ai cũng mong con nước về dài dài. Mùa nước nổi mang bao hy vọng cho người dân vùng lũ về nguồn thu, về dự định làm ăn sau này. Nó còn gột rửa cho ruộng đồng bớt chua mặn, mang phù sa về bồi đắp cho vùng châu thổ và khiến lũ chuột chẳng còn chỗ trốn để rồi trở thành món ăn khoái khẩu của những người ghiền đồ chiên nướng.

Mùa nước nổi năm nay chắc chỉ còn khoảng một tháng nữa, nhưng xem ra người miền Tây không muốn xa rời nó. Tôi còn nghe chuyện các chiến sĩ Sư đoàn 330, Sư đoàn 4 và nhiều đơn vị khác của Quân khu 9 đang rất hào hứng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu trong mùa nước lên. Có lẽ những chiến công trên bưng biền những năm đánh Pháp, đuổi Mỹ, hay đánh quân Pôn Pốt những năm xưa vẫn là niềm cảm hứng cho bộ đội luyện tập. Một vài năm trước đây, nước nhỏ, người dân buồn, bộ đội cũng phải tập "chay". Nghe nói, mỗi lần đi dã ngoại huấn luyện chiến đấu trên đồng nước, nhiều chiến sĩ đã tìm thấy "một nửa" của mình bên những cây điên điển, bên bến bán cá linh.

Có lẽ tôi cũng sẽ bố trí ít ngày về Đồng Tháp, hay An Giang, Long An, để được bồng bềnh trên đồng nước, để được lai rai ngất ngây với hương vị lẩu cá linh với bông điên điển cho thỏa chí tang bồng. Khi ấy tâm hồn sẽ được thanh thản, mơ màng với câu hò, điệu lý và đắm chìm trong hương sắc đồng nội, mê mẩn với tà áo bà ba và nụ cười của các thiếu nữ vùng sông nước Cửu Long. Vâng, mơ lắm một ngày về với "mai vàng" mùa nước nổi, với câu hát: Thương em anh chớ hững hờ/ Để mùa nước hết thì chờ đợi ai?

Bút ký của LÊ PHI HÙNG