Nhưng di sản Lưu Quang Vũ để lại còn có hơn 200 trang nhật ký vừa được công bố, qua đó giúp độc giả và các nhà phê bình thêm một góc khám phá vẻ đẹp tâm hồn và tài năng văn chương chín sớm của người nghệ sĩ ngôn từ.

“Người lớn” từ tuổi thiếu niên

Trước hết là sự hình thành nhân cách rất sớm của Lưu Quang Vũ. Mới 15 tuổi mà nhân ngày 8-3, thi sĩ tương lai đã biết: “Xin cúi chào tất cả những người mẹ, người chị, người vợ, người yêu, người bạn gái trên thế giới với tất cả niềm thương yêu và kính trọng”. Những dòng nhật ký riêng tư ấy khiến người đọc hôm nay nhớ đến câu nói của một danh nhân thế giới, đại ý: Không có người Mẹ thì không có cả mặt trời, anh hùng và thi nhân.

leftcenterrightdel
Vợ chồng Lưu Quang Vũ-Xuân Quỳnh lúc sinh thời. Ảnh do gia đình cung cấp

Mười lăm tuổi, ngày nay trẻ con chỉ biết ngoài đi học là cắm mặt vào điện thoại thông minh, chơi điện tử, lên facebook... Nhưng cũng tuổi ấy, thi sĩ tương lai của chúng ta đã thấu cảm: “Tháng 9 năm 1961. Tự nhiên mình lớn hẳn lên, từ một đứa bé mình đã trở thành một chàng thanh niên ít nói, yêu thương da diết và cũng buồn thiết tha. Chàng thanh niên đó gặp bao là bão tố. Một năm sau, mình trong sáng hơn và bình tĩnh hơn, và sau đó mình đã trở thành một người lớn, với nụ cười mỉa mai và chế giễu hết thảy, mình quá ư là ngông cuồng. Và đến bây giờ, từ tháng 5 trở lại đây, mình mới thực sự là một người, thực sự bước vào đời. Trầm tĩnh, già dặn và kín đáo”. 

Mười lăm tuổi mà đã sớm thấm thía: “Ta là một người nhiều đau khổ và hạnh phúc”. Có phải là anh đã tự tiên tri cho số phận của mình, một số phận vinh quang và cay đắng của một nhân tài nghệ thuật ngôn từ? Nhưng cái căn cốt của nhân cách Lưu Quang Vũ là tình yêu thương cuộc đời và con người. Trong một cơn cao hứng tột cùng, thi sĩ tương lai lúc chỉ mới 15 tuổi đã run bật cảm xúc mà viết: “Cuộc đời ơi! Anh yêu em lắm lắm”. Điệp khúc này lại ngân vang tiếp: “Cuộc đời ơi, ta yêu lắm lắm. Ta sẽ làm việc, sẽ cống hiến, sẽ chiến đấu vì tất cả” và “Biết yêu thương, rung động với tất cả những gì đơn sơ nhất”. Thậm chí có người cho rằng Lưu Quang Vũ đã “quá khích” khi viết: “Chàng Lưu Quang Vũ này, có trái tim lớn quá, trái tim cứ muốn phá vỡ lồng ngực mà ra, nên lúc nào chàng cũng cảm thấy đau đớn và day dứt”.

Đến tận hôm nay, chúng ta mới thấm thía tâm sự của thi sĩ: “Sức mạnh của chúng ta là ở sự yêu thương”. Có thể nói, con người hiện nay đang “yếu” đi khi tình yêu thương của nó đang bị bào mòn, hoang hóa, kiệt quệ. Tuổi mười bảy, ở ngưỡng cửa cuộc đời, Lưu Quang Vũ đã nhìn thấu: “Sao nhiều người mơ đi ngoại quốc thế nhỉ? Mình thì không thể nào sống xa Tổ quốc đơn sơ, khổ nghèo này được, mình không thể sống xa màu trời xứ sở, ngọn rau muống, tà áo nâu, mình không thể sống xa ngôn ngữ nước nhà, xa những khúc ca và nhất là trong những lúc này, quê hương đang chiến đấu”.

Gói lại phần nhật ký tuổi thiếu niên, thi sĩ viết: “Có phải Pavel gia nhập Hồng quân cũng mới 17 tuổi?”. Thời học sinh, một trong những cuốn sách Lưu Quang Vũ đọc mê say là Thép đã tôi thế đấy của nhà văn Xô viết Nikolai A.Ostrovsky. Trong nhân cách và cốt cách Lưu Quang Vũ thời “hoa niên” rõ ràng có bóng dáng và khí phách của nhân vật Pavel Korchagin. Nhận xét như thế là bởi xuất phát từ chính những gì thi sĩ viết không thể nào chân thành hơn.

Tiếng vọng của thời đại

Ngay từ tuổi thiếu niên, Lưu Quang Vũ đã sớm chín muồi ý thức công dân, biết tìm ra mối liên hệ máu thịt giữa mình với quê hương, đất nước. Các sự kiện lịch sử trọng đại đã không “vụt qua” như cách tuổi trẻ bây giờ ít người quan tâm đến: “Tự nhiên, muốn viết một cuốn hồi ký dài về tuổi thơ của mình và những người thân, có lẽ là lấy tên “Ký ức ngày thơ”. Cuốn hồi ký mình không có ý định sáng tác, chỉ ghi lại cho mình những kỷ niệm và những tài liệu sáng tác rất quý. Kẻo sau này lớn lên, quên hết những ngày kháng chiến gian khổ mà mình đã sống”.

Khi thi sĩ tương lai còn là một trang thiếu niên, nhưng đã sớm biết lắng nghe, đồng cảm và chia sẻ với đồng bào mình, nhất là đồng bào của một nửa nước còn bị chia cắt: “Mấy hôm nay, tin đấu tranh của miền Nam thân yêu dồn dập bay ra, đem lửa vào lòng mình, ngày 10, một nhà sư tự thiêu mình giữa Sài Gòn, người nữ phát thanh viên vừa báo tin này vừa nức nở khóc. Cả miền Nam đang sôi lên. Trong lòng rạo rực vô cùng. Đất nước ơi! Sao mà rung chuyển lòng ta: Nước mắt và lửa cháy, lửa cháy, lửa cháy...”. Người thiếu niên ấy lúc nào cũng trải lòng mình với đồng bào, đất nước, quê hương: “Trưa, nghe đài báo tin về Đà Nẵng: Nơi quê nội thân yêu ta chưa hề tới đang bị giày xéo vì giày đinh của quân thù, nơi ấy đang có những thằng giặc Mỹ! Ôi, Đà Nẵng. Tuy ta chưa về Đà Nẵng, nhưng gió biển, nắng biển, trời xanh Đà Nẵng đã ở trong tâm hồn ta, qua người bố Đà Nẵng của ta. Quê hương ơi! Bao giờ ta gặp nhau? Ngày ấy không xa nữa. Lòng ta bỗng lớn lên, cao lên, vì nỗi căm giận này!”.

leftcenterrightdel
Một cảnh trong vở kịch “Nguồn sáng trong đời” của Lưu Quang Vũ do Nhà hát Tuổi Trẻ dàn dựng. Ảnh: Nhà hát Tuổi trẻ

Những dòng nhật ký trên đây được viết ngày 14-12-1964. “Ngày ấy không xa nữa” là trong lòng thi sĩ. Còn hiện thực lịch sử thì phải chờ đến 11 năm sau (ngày 29-3-1975), Đà Nẵng thân yêu mới được giải phóng. Thanh-thiếu niên ngày nay ít người quan tâm đến lịch sử nước nhà, nên khi đọc nhật ký Lưu Quang Vũ, càng trân quý chàng thiếu niên 16 tuổi nhưng đã biết lưu giữ ký ức, một kiểu ký ức lương thiện trở nên hiếm hoi trong thời buổi kinh tế thị trường hôm nay: “Thứ bảy, 19-12. Ngày toàn quốc kháng chiến. Cũng ngày hôm nay 18 năm về trước, Hà Nội chặt ngả cây làm chiến lũy, đem giường, đem tủ, piano... ra chặn bước quân thù… Từ đó bắt đầu những ngày chiến đấu oanh liệt và gian khổ. Cảm ơn tất cả, nhờ đất nước, nhờ nhân dân, ta sinh ra đời không phải sống ngày nô lệ. Hứa với những người đã khuất, hứa với những người đang còn sống, suốt đời tôi, tôi sẽ làm việc và chiến đấu”.

Thi sĩ tương lai không hứa suông. Mười bảy tuổi anh đã “xếp bút nghiên”. Mười bảy tuổi mặc áo lính. Mười bảy tuổi đã thực sự hiên ngang khí phách: “Quân thù đã tới rồi đó Hà Nội ơi! Và ta lại ra đi rồi đó, ta chỉ xuống sông Hồng cuộn sóng mà một lần nữa thề rằng: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Những dòng nhật ký cuối cùng này ghi ngày 8-10-1965. Đọc nhật ký Lưu Quang Vũ, liên hệ với những cây bút trẻ hiện nay, thấy có một độ chênh quá lớn. Trong văn trẻ hiện nay, hiếm thấy những đường nét, hơi thở, âm hưởng thời đại. Trái lại, không ít những “nỉ non” sầu não, cô đơn, bế tắc trong một thế giới hỗn mang theo phép “mê lộ”.

Tín niệm về văn chương

Lưu Quang Vũ làm thơ từ khi mười tuổi, mới học lớp 4. Những vần thơ trong trẻo, thơ ngây, hồn nhiên và vô tư. Năm mười lăm tuổi thì bắt đầu có ý thức nghề nghiệp: “Thơ lớp 4 thì viết rất trẻ con, chưa biết làm. Lớp 5 sôi nổi hơn, lớp 6 cũng vậy, nhưng ít hơn. Lớp 7 bắt đầu có cảm xúc, có tứ thơ nhưng còn rất non, lớp 8 thì vững hơn...”. Những dòng “tự nhận xét” này được viết vào ngày 26-2-1963. Lúc đó anh mới mười lăm tuổi đầu nhưng đã sớm tự ý thức về nghề văn rất nghiêm túc: “Muốn đem hết sức mình mà làm thơ, mà viết văn để ca ngợi cuộc sống, để phục vụ cho đời mến yêu...”.

Đọc nhật ký Lưu Quang Vũ, liên hệ tới quan niệm văn chương của một số nhà văn đương thời coi văn chương chỉ là “cuộc chơi chữ nghĩa”, để thấy sự khác nhau một trời một vực giữa một nhà văn chân chính và một nhà văn thời thượng. Nhân cách văn chương ấy của Lưu Quang Vũ, trước hết là ảnh hưởng to lớn từ người cha là nhà văn Lưu Quang Thuận. Suốt cuộc đời ngắn ngủi của mình, Lưu Quang Vũ đinh ninh lời người cha dặn dò: “Con muốn làm nghệ sĩ, nhà văn, họa sĩ, hay nhà thơ... thì trước nhất, con hãy làm Người đã!”.

Người ta nói, với nghệ sĩ sáng tác quan trọng nhất chính là quan niệm về cái đẹp-tức là lý tưởng thẩm mỹ. Từ rất sớm, Lưu Quang Vũ đã xác tín: “Trước kia mình quan niệm cái đẹp thật là bề ngoài. Sáng nay, mình thấy tất cả mọi cái đều đẹp cả: Từng cái lá, nóc nhà, hòn đất, bức tường, đều đẹp”. Mười lăm tuổi mà thi sĩ tương lai đã chín chắn như một cây bút đã trải qua lửa đỏ và nước lạnh: “Mình không rút lui vào tháp ngà nghệ thuật đâu, nhưng mình sẽ để tâm hồn vào những việc khác kia: Vào những cái cao đẹp hơn!”. Đó là những bước đi đầu tiên nhưng đã không còn run rẩy, loạng choạng của một người “lính mới” trên văn đàn. Bởi con đường anh đi đã được lát bằng những tín điều vững chãi: “Mình nói chuyện và đi chơi với Bùi Vũ Hiển, người bạn văn thơ. Hai thằng tranh luận về vấn đề sáng tác, ý kiến không thống nhất. Mình không đồng ý với cậu ta ở chỗ: Cậu ta cho cái quan trọng nhất của người viết văn là óc tưởng tượng. Còn mình thì cho là: Quan trọng nhất là cuộc sống và tình cảm của người viết. Ví dụ như một nhành khô đâm chồi, người khác thì không để ý tới nhưng người viết văn thì phải thấy rung động, phải có một tâm hồn nhạy cảm đối với cả từng mùi hương...”.

Theo cách diễn đạt của Lưu Quang Vũ, thì anh biết ơn cuộc đời đã đem lại thi hứng, thi liệu, thi ảnh cho thơ ca nói riêng, cho văn chương nói chung: “Cảm ơn cuộc đời, cảm ơn đất nước đã đem đến cho tôi bao nhiêu cảm xúc”. Một lần đi xem bộ phim “Phục sinh” dựa theo tiểu thuyết của văn hào Nga vĩ đại L.Tolstoy ở thế kỷ XIX, thi sĩ tương lai đã viết vào nhật ký: “Chúng ta không những phê phán cái xấu mà phải cứu vớt con người”. Cứu vớt con người chính là cứu vớt linh hồn họ, để họ được sống đầy đủ nhất theo nghĩa rộng của hai chữ Tự Do. Đó là tư tưởng căn bản chi phối toàn bộ sáng tác của Lưu Quang Vũ về sau. Thực tế sáng tác cho thấy Lưu Quang Vũ không phải “kém” về trí tưởng tượng, trái lại trí tưởng tượng của thi sĩ tương lai rất phong phú, rất giàu có; nhưng anh vẫn đề cao sự sống, coi đó là nguồn sữa nuôi dưỡng sáng tác. Người nghệ sĩ không chỉ sống trọn vẹn cuộc đời mình mà cao hơn phải sống cả đời sống bao la của “thiên hạ”. Anh xác tín: “Người cầm bút phải sống gấp nhiều lần người thường. Vì anh ta không chỉ phải sống cho anh mà còn sống cho muôn vạn sáng tác của anh, của bao nhiêu người...”.

Và anh không hão huyền, hoang đường khi chọn nghệ thuật làm lẽ sống đã ý thức được từ rất sớm rằng: “Nghệ thuật là một con đường gian lao, nhưng như lời bố nói tối nay: Người nghệ sĩ phải tìm ra cái đẹp trong mỗi sự việc của cuộc đời!”. Tiểu sử của thi sĩ Lưu Quang Vũ còn ghi rõ ràng: Ngày 3-6-1965 anh nhập ngũ, mặc bộ quân phục mới, một trang đời mới của một Con Người viết hoa!

Nhà phê bình BÙI TÙNG ẢNH