Tuy nhiên, có thể thấy, nếu chiến tranh là đề tài chủ đạo, phổ biến, mang lợi thế của văn học sử thi, của những cây bút gạo cội, thì dường như lại là một trở ngại của những cây bút trẻ hiện nay.

 Từ cách nhìn đa chiều, rộng mở…

“Nhà văn trẻ” là định danh có tính tương đối, không chặt chẽ, hướng đến những nhà văn sinh ra và lớn lên sau thời điểm thống nhất đất nước năm 1975. Cách gọi này dần phải được điều chỉnh, vì thời điểm 1975 đã qua hơn 40 năm. Dẫu sao, trường thẩm mỹ, văn hóa, văn học… của đất nước vẫn nằm trong cùng một hình thái văn học thời hậu chiến. Các nhà văn trẻ bây giờ, có lẽ phải tính là thế hệ 8X, 9X, thậm chí cả những người sinh sau năm 2000. Ở điểm nhìn thời hậu chiến, chủ thể sáng tạo, tiếp nhận có nhiều cơ hội tạo nên khác biệt. Chiến tranh trong cái nhìn của người trẻ hôm nay không chỉ là bom đạn, chết chóc… mà dường như bởi những lợi thế thuộc về thời đại, họ nhìn thấy những hiện thực khác của chiến tranh vốn ít được nói tới trong văn chương thời chiến.

Cái nhìn đa chiều gắn với bối cảnh đổi mới, rộng mở của không gian đương đại chính là cơ sở của đề tài chiến tranh trong sáng tác của các nhà văn trẻ. Họ được ủng hộ từ cái nhìn rộng mở của thời hậu chiến. Bởi thế, không giống như lớp nhà văn cha chú trải nghiệm trực tiếp, các nhà văn trẻ nhìn chiến tranh gián tiếp thông qua tư liệu, chuyện kể… Bởi thế, bên cạnh cái khốc liệt, văn trẻ viết về chiến tranh tăng thêm những suy tư, xúc cảm, những khía cạnh khuất lấp, những diễn biến sau cuộc chiến nhưng bắt nguồn từ cuộc chiến. Dễ nhận ra trong sáng tác của Doãn Dũng, Võ Diệu Thanh, Hồ Kiên Giang, Phong Điệp, Lê Mạnh Thường, Nguyễn Thị Kim Hòa, Vũ Thanh Lịch, Huỳnh Trọng Khang… những số phận bi kịch mà nguyên nhân khởi phát từ chiến tranh. Cái nhìn gián tiếp, có khoảng cách thời gian đã giúp các nhà văn trẻ thoát ra khỏi từ trường của văn học sử thi. Chiến tranh không phải là trung tâm hoặc duy nhất trong câu chuyện của họ. Chiến tranh có thể là một gợi dẫn, một nguyên cớ, một ký ức để những câu chuyện khác, những liên quan khác được trình hiện. Ở đây, chất thế sự của văn chương viết về chiến tranh là điểm rất đáng lưu ý. Không gian của văn học sử thi là không gian huyền thoại gắn với cộng đồng đoàn thể-ít sự kiện; còn không gian của văn học thời hậu chiến là không gian của chuyện kể-luôn xảy ra sự kiện, hàm chứa tính chất đời tư thế sự. Tưởng như mâu thuẫn, nhưng những gián cách về thời gian là một cơ hội để chiến tranh được nhìn khác hơn, kỹ hơn, đầy đủ hơn. Điều đó, ở những sáng tác sử thi giai đoạn trước chúng ta chưa có điều kiện để nói một cách triệt để.

Thực trạng mừng ít, lo nhiều

Tuy vậy, thực tiễn sáng tác văn chương về đề tài chiến tranh cách mạng của các nhà văn trẻ lại chưa thực sự tương xứng với những điều kiện thuận lợi thuộc về ngữ cảnh nêu trên. Văn chương viết về đề tài chiến tranh cách mạng đã có những thành tựu rất đáng kể. Không thể không nhắc đến những đỉnh cao của văn học thời chiến như Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên, Hữu Mai, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Chu Lai, Phan Tứ, Hồ Phương, Anh Đức, Nguyễn Thi, Khuất Quang Thụy, Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa… Khi những tượng đài tỏa bóng xuống nền văn chương nước nhà, rất cần ở những nhà văn trẻ một nỗ lực để thoát ra khỏi cái bóng rộng lớn ấy. Như thế, nhà văn trẻ phải đối diện với hai thách thức: Thoát khỏi ám ảnh của những tác phẩm đã đóng đinh vào lịch sử văn học thời chiến; đồng thời, muốn thế, họ phải vượt qua chính mình. Phải thật sòng phẳng để nhận định, đọc những sáng tác của các nhà văn trẻ chúng ta vẫn chưa nhận thấy những cuộc bứt phá ngoạn mục minh chứng các nhà văn trẻ đã thoát ra khỏi cái bóng của cha anh. Chuyện đó, đương nhiên không dễ, nhưng trong bối cảnh đương đại, với những điều kiện rộng mở hơn, câu hỏi vẫn cứ phải đặt ra: Tại sao? Thiếu trải nghiệm chiến tranh phải chăng là một thách thức? Có thể, nhưng chắc chắn không phải là tất cả. Với văn chương, nguyên lý của tưởng tượng, hư cấu đặt tất cả vào tính khả thể. Dĩ nhiên, văn chương viết về chiến tranh cách mạng nói riêng, lịch sử nói chung không được xuyên tạc hay xem thường lịch sử. Nó gợi dẫn hay đề xuất, rọi chiếu hay hé mở các khả năng của lịch sử. Thực trạng nhà văn trẻ hiện nay tỏ ra không mặn mà với lịch sử đấu tranh cách mạng, nguyên nhân có thể nằm ở chính sức hấp dẫn của đề tài này trong tâm thức những người trẻ tuổi. Cuộc sống đương đại có nhiều điều khác lôi cuốn tâm trí giới trẻ. Trong khi chiến tranh đã lùi xa, đã trở nên lạ lẫm với những người trẻ tuổi. Mặt khác, bản thân lịch sử khá dày dặn của thể tài văn học sử thi đã trở thành một giới hạn, một bức tường ngăn trở người trẻ đến với những chân trời sáng tạo mới. Trong các sáng tác về chiến tranh cách mạng của các tác giả hôm nay, chúng ta vẫn thấy những mô-típ đã rất thành công, thậm chí đến mức kinh điển trong tác phẩm viết về thời hậu chiến của các nhà văn đã thành danh như Bảo Ninh, Chu Lai, Lê Minh Khuê, Trung Trung Đỉnh v.v.. Cũng viết trong không gian hậu chiến, nhưng thế hệ cuối 7X, 8X, 9X… có lẽ vẫn cần một nỗ lực mãnh liệt hơn để đứng riêng, kiến tạo chiến tranh trong văn chương của riêng mình.

 

leftcenterrightdel
  Nhiều tác giả đoạt giải cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2013-2014 là những cây bút trẻ. Ảnh: 

TRỌNG THỦY

Văn chương mang giá trị đích thực có lẽ không nên bàn đến chuyện vượt qua hay phủ định. Sáng tạo cần nhất là sự khác biệt mang giá trị. Cái khác có giá trị chính là điều mà thế hệ trẻ viết về chiến tranh cần nỗ lực tạo dựng. Những tác phẩm viết về chiến tranh của một số tác giả trẻ gần đây; nhất là một số tác phẩm đã đoạt giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2013-2014 của một số tác giả như Doãn Dũng (Âm thanh của ký ứcChuyện Nguyên Phong), Hồ Kiên Giang (Chuyện trên núi Tưk cot)… có lẽ đã bắt đầu manh nha một xu hướng khác như thế; tuy không chắc là có còn nên gọi họ là “nhà văn trẻ” nữa không, khi họ đã bước sang tuổi 40 hoặc hơn. Ở những người trẻ hơn, đáng được lưu ý, như: Nguyễn Thị Kim Hòa, Trịnh Sơn, Huỳnh Trọng Khang… giúp chúng ta có được ít nhiều hi vọng. Sự linh hoạt trong tổ chức thế giới nghệ thuật, lối viết, cấu trúc mềm dẻo của hệ thống sự kiện, điểm nhìn, tính chất hiện đại thuộc về diễn ngôn, đặc tính thế sự của không gian truyện kể, vai trò của yếu tố vô thức, tâm linh, huyền ảo… chính là những dấu hiệu manh nha của một tư duy nghệ thuật khác về chiến tranh. Nhưng, một vài trường hợp như thế chưa đủ lấn át những băn khoăn của văn chương trẻ viết về đề tài chiến tranh. Đáng tiếc hơn, trong một vài tác phẩm của nhà văn trẻ, sự nông cạn hay vụng về, đơn giản đến thường tình đã gieo thêm những ảm đạm vào không gian văn học này.

Về mặt đội ngũ, nếu căn cứ trên tiêu chí về “nhà văn trẻ” do Hội Nhà văn Việt Nam đưa ra năm 2016, có thể thấy lực lượng trẻ ở mảng đề tài chiến tranh cách mạng khá mỏng. Như đã nói, nếu những nhà văn như Doãn Dũng (sinh năm 1971), Nguyễn Đình Tú (sinh năm 1974), Phong Điệp (sinh năm 1976), Hồ Kiên Giang (sinh năm 1975)… vẫn được liệt kê một cách khá hồn nhiên là “nhà văn trẻ” thì họ đều đã ở tuổi ngoại tứ tuần. Những người khác có thể nhắc đến ở đây (mà tác phẩm của họ đã được Tạp chí Văn nghệ Quân đội giới thiệu hoặc trao giải gần đây) cũng xấp xỉ ngưỡng ấy hoặc hơn, như: Võ Diệu Thanh (sinh năm 1975), Nguyễn Thị Kim Hòa (sinh năm 1984), Lê Mạnh Thường (sinh năm 1973), Trịnh Sơn (sinh năm 1982), Nguyệt Chu (sinh năm 1984), Trương Anh Quốc (sinh năm 1976), Huỳnh Trọng Khang (sinh năm 1994) v.v.. Nhìn chung, thế hệ 8X, 9X dường như khá dè dặt với mảng đề tài chiến tranh cách mạng. Đọc các sáng tác của tác giả trẻ nhân Hội nghị đại biểu viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX năm 2016, như một khảo sát ngẫu nhiên, cũng không tìm thấy đề tài chiến tranh cách mạng. Chỉ có một vài chi tiết nhỏ trong Gió tháng Chạp của Nguyệt Chu liên quan đến vấn đề chất độc da cam. Những dư chấn, kiến tạo và định hình xuất phát từ nguyên cớ chiến tranh khó tìm thấy trong sáng tác của các tác giả trẻ này. Điều đó khiến cho những âu lo về lực lượng sáng tác không phải là không có cơ sở.

Đôi điều về giải pháp

Để cải thiện tình hình, trước các vấn đề lực lượng, diện mạo và chất lượng của văn học trẻ viết về đề tài chiến tranh cách mạng, có lẽ cần một chiến lược lâu dài. Trên một thế nhìn có tính bình đẳng giữa các đề tài văn học nghệ thuật, chiến tranh cách mạng trong không gian đương đại phải chấp nhận nguyên lý của thời hậu chiến. Năng lực cạnh tranh, sức lôi cuốn, hấp dẫn của đề tài chiến tranh, trong thực tế chưa được thể hiện mạnh ở thế hệ trẻ cuối 8X, 9X. Những bận tâm của giới trẻ đương đại dường như không ưu tiên cho chiến tranh. Bởi vậy, không phải dễ khi đặt ra vấn đề tìm giải pháp để người viết trẻ mặn mà với đề tài chiến tranh cách mạng. Điều cần thiết trong bối cảnh này chính là tạo nên hành lang cơ chế có tính rộng mở hơn cho người viết. Nghĩa là, chiến tranh như là một đề tài nghệ thuật với mọi góc nhìn, mọi diễn giải, mọi khả thể của sáng tạo và tiếp nhận. Giáo dục truyền thống cách mạng, lịch sử chiến tranh phải cho thấy tính thực chất, toàn diện, trở thành ý thức thẩm mỹ, tình cảm thẩm mỹ của giới trẻ, biến nhận thức thành hành vi sáng tạo nghệ thuật. Như thế, vấn đề khá cốt lõi ở đây chính là quan niệm về giá trị, về nghệ thuật mà rốt ráo chính là tư tưởng thẩm mỹ. Nhà văn trẻ, thế hệ 8X, 9X cần thấy được chiến tranh cách mạng là một di sản lịch sử, chính trị, xã hội, văn hóa và nghệ thuật, để từ đó có thái độ và ứng xử thỏa đáng. Đề tài chiến tranh, không phải chỉ là vấn đề sở thích, mà đó là trách nhiệm, nhận thức, thái độ và hành động của người trẻ trong việc nhìn nhận lại quá khứ cũng như hướng tới tương lai. Cùng với đó, nhà văn trẻ cũng cần trau dồi, nâng cao năng lực nghề nghiệp, có khả năng khai phá những tầng vỉa mới của hệ đề tài chiến tranh cách mạng. Việc thay đổi tư duy nghệ thuật, lối tiếp cận đề tài, lối viết từ những nhà văn trẻ sẽ đem lại những thay đổi về chất lượng cũng như từng bước định hình diện mạo của bộ phận văn học này.

Diện mạo khá nhạt nhòa của văn trẻ viết về đề tài chiến tranh là điều có thật. Mặc dù được hậu thuẫn từ bối cảnh đương đại, nhưng các nhà văn trẻ tỏ ra không mặn mà với đề tài này. Một vài trường hợp như đã đề cập đến ở trên, có lẽ vẫn nằm trong số ít ỏi, hiếm hoi mà chúng ta có thể liệt kê. Những thách thức đến từ điều kiện khách quan và chủ quan đều có thể phải xem là lẽ thường trong quy luật sinh thành, phát triển, vận động của các hiện tượng xã hội. Chúng ta hiểu rằng, trong một nỗ lực định hình thế hệ, chiến tranh với người trẻ có thể không phải là một bận tâm thường trực hay riết róng như lớp cha anh của mình. Tuy vậy, những di sản của lịch sử luôn mang trong lòng nó bài học cho những hành trình kế tiếp. Trên một đất nước có lịch sử chủ đạo là chiến tranh như Việt Nam, đó phải xem là một bài học lớn, là những chỉ dấu cho việc định hình căn tính dân tộc, luân lý, đạo đức và các giá trị nhân văn khác.

TS NGUYỄN THANH TÂM  (Viện Văn học Việt Nam)