Ngày 7-1-1979, ai ai cũng náo nức khi nghe tin được sự hỗ trợ to lớn của Quân tình nguyện Việt Nam, quân đội Campuchia và nhân dân nước bạn đã vùng lên lật đổ ách thống trị của bọn diệt chủng Pol Pot-Ieng Sary, giải phóng thủ đô Phnom Penh và đất nước Campuchia khỏi thảm họa khủng khiếp kéo dài hơn 3 năm 8 tháng, một thảm họa chỉ có thể so sánh với tội ác của bọn Hitler trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

leftcenterrightdel

Nhà thơ Anh Ngọc thăm lại kỳ quan Angkor, tháng 2-2009. Ảnh do nhân vật cung cấp

Sáng hôm sau, vừa đến cơ quan thì tôi và hai anh: Hồng Phương, Thiều Quang Biên được triệu tập lên gặp Phó tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân Trần Công Mân. Ban biên tập giao nhiệm vụ cho ba chúng tôi lập tức bay sang Campuchia để theo dõi tình hình và viết bài phản ánh kịp thời. Còn nhớ, đồng chí Trần Công Mân phân công cụ thể cho hai anh Hồng Phương và Thiều Quang Biên đi vùng nào, làm gì… Đến lượt tôi, đồng chí cười và nói: “Anh Ngọc làm thơ, muốn đi đâu thì đi”. 

Thế là với nhiệm vụ được giao hết sức phù hợp với ý thích của tôi, tôi chạy đi mượn một máy ảnh, xin một cuộn phim và chỉ kịp về nhà thu xếp vài tư trang, từ giã vợ con giữa những ngày Tết đang đến gần, để ngay sáng hôm sau cùng hai đồng nghiệp lên máy bay quân sự từ Gia Lâm bay thẳng vào Thành phố Hồ Chí Minh. Hôm sau nữa thì chúng tôi leo lên máy bay trực thăng quân sự để bay sang sân bay Pochentong, rồi từ đó đi nhờ xe bộ đội vào thủ đô Phnom Penh và đối diện với một cảnh tượng chưa từng có: Đúng là một thành phố chết, giống như báo chí phương Tây gọi đất nước Campuchia ngày ấy là “cánh đồng chết”. Ngoài Quân tình nguyện Việt Nam và quân đội bạn, thành phố hoàn toàn không có một bóng người. Khắp nơi là những dãy phố vắng tanh, những ngôi nhà không chủ, chỉ thấy toàn những tấm tôn bịt bùng và hàng rào thép gai tua tủa... Và đây đó thỉnh thoảng lại bốc lên một mùi thum thủm mà thoạt đầu cứ tưởng là mùi mắm bồ hóc, thứ mắm quen thuộc của nhân dân Campuchia, nhưng chỉ mấy hôm sau thì tôi đã biết đó là thứ mùi gì…

Đó là một buổi gần trưa sau vài ngày tôi vào Phnom Penh, có người báo cho chúng tôi biết là ở giữa thủ đô có một ngôi trường tên là Tuol Sleng, nơi bị bọn Pol Pot biến thành nhà tù và đã giết hại ở đó hàng vạn người, hiện trong nhà tù vẫn đầy những thi thể mà trong lúc tháo chạy, bọn tàn quân của Pol Pot đã vứt lại. Thế là tôi và anh Hồng Phương lập tức nhảy lên xe một cán bộ cấp cao của Quân tình nguyện Việt Nam và ông Khang Xarin, Tư lệnh quân quản của bạn, phóng thẳng đến ngôi trường-nhà tù này. Dọc đường đi, anh Hồng Phương loay hoay lắp phim vào máy chẳng may bị kẹt, đành trao cho tôi cuộn phim quý báu của anh. Thế rồi, khi chúng tôi chui qua mảnh vườn um tùm rất nhiều hoa đỏ rực rỡ giữa trưa nắng, đặt chân vào hành lang ngôi trường, lập tức một cảnh tượng kinh hoàng đập ngay vào mắt: Trong mỗi căn phòng vốn là lớp học, có những thi thể đã để mấy ngày rồi nên bốc mùi dễ sợ. Là nhà báo và người duy nhất có máy ảnh ở đó lúc ấy, tôi đã lần mò vào từng phòng một để chụp ảnh các thi thể, trong mùi hôi thối nồng nặc và hình ảnh dễ sợ của cái “địa ngục trần gian”, còn kịp nghe dưới chân mình đang giẫm lên giòi bọ nổ lép bép… Câu chuyện này tôi đã kể quá nhiều lần nên xin không kể lại nữa. Đúng là phải cảm ơn chiếc máy ảnh và cuộn phim hiếm hoi, nhờ nó mà tôi đã kịp giữ lại cho nước bạn và thế giới những tư liệu vô cùng quý, vì ngay sau đó, do ô nhiễm quá mức, bộ đội đã đốt hết các thi thể và chôn ngay trong khuôn viên khu trường. Ngày nay, khách đến thăm khu bảo tàng này sẽ thấy những nấm mộ đó.

Biết giá trị của những tấm ảnh này, ngay chiều hôm đó, tôi xin đi nhờ trực thăng về TP Hồ Chí Minh và gửi ngay cuộn phim ra Hà Nội cho tòa soạn. Và đầu tháng 2-1979, Báo Quân đội nhân dân đã in một chùm ảnh chụp các thi thể ở nhà tù Tuol Sleng của tôi. Còn tôi, lúc ấy đã lại theo xe của một vị cán bộ quân đội trở lại Phnom Penh để chứng kiến lễ mít tinh mừng chiến thắng của bạn, tổ chức ở sân vận động Olympic. Một cảnh tượng cũng rất cảm động khi gặp hàng đoàn người dân Campuchia vừa thoát chết trở về, ai ai cũng áo quần đen nhẻm, gầy gò, mệt mỏi…, còn Tư lệnh quân quản Khang Xarin thì duyệt binh bằng cách đi bộ dọc hàng quân trong làn bụi bay mù mịt. Đặc biệt, chính vào hôm ấy, tôi đã nhìn thấy phóng viên Nhật Bản Isao Tacano đang tác nghiệp một cách vô cùng tận tụy. Sau này, tôi lại được gặp anh ngày 7-3-1979 ở gần thị xã Lạng Sơn trước khi anh hy sinh vào chiều tối hôm đó trong thị xã Lạng Sơn...

Ấn tượng thứ hai của lần công tác không thể quên, ấy là sau khi ăn một cái Tết ở TP Hồ Chí Minh, tôi lại theo máy bay trực thăng bay sang Siem Reap. Ngược lại với cảm xúc đau thương và cảnh tượng u ám ở nhà tù Tuol Sleng, tôi thật kinh ngạc vì tầm vóc hoành tráng cùng nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc trên cả tuyệt vời của kỳ quan Angkor. Sau này tôi đã viết trong dòng tiêu đề nhỏ của trường ca “Sông Mê Công bốn mặt” của mình là: “Thường thì trí tưởng tượng vượt xa thực tế, nhưng ở đây, ở Angkor, thì thực tế lại vượt xa trí tưởng tượng”. Tôi đã dành cho kỳ quan này chương đầu tiên của trường ca “Sông Mê Công bốn mặt” và đó là một trong những đoạn thơ mà tôi tâm huyết nhất trong tác phẩm trường ca dài hơn ba ngàn câu thơ này.

Ngay sau những ngày đầu tiên có mặt ở Campuchia, tôi đã biết là với chất liệu này không thể viết thơ ngắn được và một cấu trúc trường ca đã dần dần hình thành trong đầu tôi. Sau khi thăm Angkor và trở về Hà Nội, tôi bắt đầu đặt bút viết những dòng đầu tiên của bản trường ca “Sông Mê Công bốn mặt”. Sở dĩ tác phẩm có nhan đề như vậy là vì sự trùng hợp rất thú vị và giàu ý nghĩa của hai chất liệu đời sống rất tiêu biểu, ấy là sông Mê Công, chỗ tại Phnom Penh là hợp lưu của 4 nhánh sông và chỗ hợp lưu ấy người Campuchia gọi là “Sông bốn mặt”. Trong khi đó, ở Angkor thì lại có những pho tượng Bayon vô cùng kỳ vĩ cũng có bốn mặt quay về bốn hướng. Vì vậy, tôi đã chọn và rất ưng ý với nhan đề tập trường ca.

Lần thứ tư tôi sang Campuchia vào tháng Giêng năm 1980, đúng một năm sau lần đầu tiên tôi đặt chân đến đất nước này. Vì muốn được chứng kiến những đổi thay của nước bạn sau một năm giải phóng nên tôi đã xin và được cấp trên cho phép vào TP Hồ Chí Minh rồi theo xe bộ đội ta sang Phnom Penh. Tại đó, tôi đã gặp anh Hà Đình Cẩn là phóng viên của Báo Quân đội nhân dân đang có chuyến công tác dài ngày ở Campuchia. Lần này, hai chúng tôi đi về hướng Puốc Xát, Battambang... để chứng kiến cuộc sống mới của nhân dân nước bạn và nhất là cuộc truy lùng bọn tàn quân Pol Pot của Quân tình nguyện Việt Nam và quân đội cách mạng Campuchia. Chúng tôi đã lên tận Pai Lin, những nơi sát biên giới với Thái Lan, gặp gỡ và nghe kể nhiều chuyện của nhân dân và bộ đội bạn, nhưng cảm động nhất là cuộc sống và chiến đấu của Quân tình nguyện Việt Nam. Tại địa danh gọi là khu “Hai mươi nhà” tận vùng hoang vắng Tây Nam Campuchia, chúng tôi đã cùng lính ta ăn những bữa cơm với gạo mục, muối cục đúng nghĩa, nghe kể thêm về những câu chuyện bị địch phục kích... Nhưng kẻ thù và mọi khó khăn đã không thể đánh gục ý chí những người lính tình nguyện quả cảm của chúng ta. Và những gì anh em bộ đội tình nguyện chúng ta đã làm trong những năm giúp bạn thoát khỏi nạn diệt chủng và xây dựng cuộc sống mới là một chiến công vĩ đại, hoàn toàn có thể kế tục hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

leftcenterrightdel
Nhà báo Anh Ngọc tác nghiệp tại nhà tù Tuol Sleng (Campuchia), tháng 1-1979.

Năm 1987, tôi lại sang Campuchia lần thứ năm, đi cùng các nhà văn, nhà thơ quân đội để giúp các bạn nhà văn trẻ Campuchia. Dịp ấy, nhà văn Nguyễn Chí Trung đang tổ chức một trại sáng tác cho các nhà văn Campuchia...

Tròn 30 năm sau, vào tháng 2-2009, tôi và các nhà văn trong khu vực có mặt tại Phnom Penh dự Hội nghị văn chương và nhận Giải thưởng văn học sông Mê Công cho trường ca “Sông Mê Công bốn mặt” của tôi. Đây là lần thứ sáu tôi trở lại đất nước Campuchia. 30 năm sau ngày giải phóng, đất nước Campuchia đã thay đổi vô cùng ngoạn mục. Khắp nơi, từ Phnom Penh cho đến dọc đường đi lên Siem Reap, đâu đâu cũng thấy khung cảnh cuộc sống mới thật tuyệt vời của một đất nước đã hoàn toàn “thay da đổi thịt”. Dịp ấy, tôi và các bạn văn chương đã thăm lại nhà tù Tuol Sleng, nay gọi là “Bảo tàng diệt chủng”. Tại đây, tôi rất vui vì thấy những bức ảnh tôi chụp 30 năm trước đã được phóng to treo trong các căn phòng làm chứng cứ tố cáo tội ác diệt chủng, bên những chiếc giường tàn tạ và những chiếc còng, sợi xích còn để nguyên... Và tôi đã đứng chụp tấm ảnh kỷ niệm bên tấm ảnh tôi chụp năm xưa. Đó là bức ảnh con gà đang đứng trên một thi thể.

Cũng dịp ấy, theo các nhà văn lên chiêm bái kỳ quan Angkor, tôi đã mang tặng Ban quản lý khu di tích Angkor tập trường ca “Sông Mê Công bốn mặt” của tôi, trong đó có chương mở đầu viết về kỳ quan Angkor với những cảm xúc dâng trào của lần đầu tiên tôi được chứng kiến. Cũng xin được nói thêm: Ngay trong năm 1979, Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã trao tặng phẩm cho đoạn trích viết về Angkor của tôi được đăng trên tạp chí. Năm 2009, tác phẩm đã được trao Giải thưởng sông Mê Công và năm 2012, tập trường ca này cùng với tập thơ “Ngàn dặm và một bước” của tôi đã vinh dự được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Nhà thơ ANH NGỌC (nguyên phóng viên Báo Quân đội nhân dân)