Vui, vì tự thấy mình bắt đầu vào tuổi trưởng thành được tiếp bước cha anh vào phục vụ quân đội. Buồn, vì lần đầu phải xa nhà, xa tất cả những gì thân thương đã gắn bó với mình suốt thời niên thiếu và cũng không khỏi phân vân, lo lắng không biết mình có đủ ý chí, nghị lực, sức khỏe để vượt qua những gian nan, vất vả trong môi trường quân đội hay không.

Đúng như những gì tôi nghĩ, những ngày tháng đầu huấn luyện, rèn luyện thật sự là một thử thách. So với bạn bè cùng trang lứa, tôi thấp bé nhẹ cân hơn họ. Khi học chính trị, điều lệnh đội ngũ, kỹ thuật, chiến thuật, dù hơi “nhỏ con” song tôi cũng gắng vượt qua được. Có một kỷ niệm tôi nhớ mãi. Trong một buổi huấn luyện thể lực, lần đầu tiên tôi được học nội dung đẩy tạ và nâng tạ. Phần vì sức khỏe có hạn, phần vì thiếu kỹ năng đẩy tạ và nâng tạ đúng động tác, kỹ thuật, sau buổi chiều huấn luyện, tôi có cảm giác nhưng nhức cả hai bả vai.

Qua 21 giờ hôm đó, khi điểm danh quân số xong, tôi ra đứng sau hiên nhà mà lòng chống chếnh vô cùng. Nỗi đau ê ẩm như lan ra toàn thân cộng với nỗi nhớ nhà khiến tôi bần thần, thờ thẫn. Bất chợt một người bạn cùng trung đội đi ngang qua, thấy tôi thẫn thờ như một kẻ “mất hồn”, hỏi nhẹ: “Quê ơi, quê nhớ nhà à?”. Giọng người bạn đầm ấm như làm tôi trấn tĩnh trở lại: “Ừ, chiều nay tập tạ xong, mình bị đau ê ẩm toàn thân. Tự nhiên mình thấy nhớ nhà quá!”. “Đau nhức hai vai hả? Để tớ đến phòng quân y xin tí cao sao vàng để cậu xoa bóp vào chỗ đau nhức nhé!”. Tôi bảo: “Tớ cũng vừa qua phòng anh y sĩ đại đội rồi, nhưng anh ấy bận chút việc nên xin ra ngoài sáng mai mới trở lại đơn vị”. Bạn động viên: “Thôi, quê cố gắng chịu đựng chút đau nhé. Mai, ngày kia sức khỏe sớm trở lại bình thường mà”. Tối hôm đó, dù không có cao sao vàng để xoa bóp vào chỗ đau, song những lời chia sẻ kịp thời, đúng lúc của người bạn đã phần nào giúp tôi xoa dịu nỗi buồn mênh mang đang xâm chiếm tâm hồn mình.

Hơn 27 năm trôi qua, hai tiếng “quê ơi” của người bạn đồng hương như đồng hành, vang vọng trong tâm trí tôi trên hành trình quân ngũ. Giờ đây, gần chục người bạn cùng tỉnh của tôi đều đã phấn đấu trở thành sĩ quan cao cấp, có người đang là cán bộ chủ chốt cấp sư đoàn, nhưng mỗi khi trao đổi, trò chuyện, tâm sự, hỏi han nhau, dù qua điện thoại, tin nhắn hay gặp mặt trực tiếp, chúng tôi bao giờ cũng đưa từ “quê” lên trước tên cụ thể của mỗi người. Ví như: “Quê Cường à, sắp có tin mới gì chưa?”; “Quê Nam ơi, nhớ cuối tuần này xuống nhà mình chơi nhé”, “Quê Chí dạo này trông trẻ hơn cách đây mấy năm đấy!”, “Cuối tuần sau đi công tác, tôi ghé vào thăm nhà quê Ngân nhé!”…

Tháng 8 năm ngoái, tôi may mắn vinh dự được thăng quân hàm đại tá trước niên hạn, mấy người bạn đồng hương thuê một chuyến xe xuống Hà Nội chúc mừng tôi. Ngoài bó hoa tươi thắm, biết tôi một thời gắn bó với khoai, sắn, trám đen, măng mai, các bạn không quên mang cho tôi mấy thứ nông sản là đặc sản của quê hương. Nhận những món quà thân thương của mấy người bạn, vợ tôi xúc động: “Đúng là chỉ đồng hương trong quân ngũ mới dành cho nhau những tình cảm thân thiết như thế”.

Không riêng tôi, mà tất cả những ai đã từng trải qua những ngày tháng trong quân ngũ, ngoài tình đồng bào sâu nặng, tình đồng đội nồng ấm, tình đồng chí thiêng liêng, trong trái tim còn có một góc chứa tình đồng hương thân thương. Đó là một thứ tình cảm tự nhiên, sẵn có trong máu thịt của mỗi con người. Xa gia đình, xa người thân, những người lính khi quan hệ, giao tiếp với nhau không chỉ trong phạm vi điều lệnh, điều lệ, quy định đã được chuẩn mực hóa, mà còn dành cho nhau sự ứng xử chân thành, nhã nhặn, tinh tế bằng tình cảm của những người chung một chí hướng, cùng một đội ngũ và bằng nghĩa cử, tấm lòng của những người cùng xuất thân trên một mảnh đất quê hương. Bởi thế, tình đồng hương là một nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm hồn của người lính nên được lưu giữ, phát huy để góp phần nhân lên và làm đẹp hơn tình cảm cách mạng trong sáng của Bộ đội Cụ Hồ.

THIỆN VĂN