Ở trong lòng thành phố có những ngôi làng, vùng trầm tích, cống hiến cho Thủ đô bao người con ưu tú.

Cha tôi vẫn thường dặn các con, làng Lủ (làng Kim Lũ) quê mình là đất đẻ quan, đẻ trạng, phải tiếp nối truyền thống quý báu cha ông. Anh em tôi ghi tạc lời cha, để mỗi khi đi dọc con sông Kim Giang êm đềm, đã đi vào thơ ca, nhạc họa của Hà Nội, hay đi qua cổng làng uy nghiêm, đều thấy tự hào. Hà Nội có nhiều làng ngoại thành đẹp như tranh vẽ, nhiều cổ thụ, giữ được cổng làng, là đất học như làng tôi. Nhiều người con trong làng của họ cũng yêu thành phố theo cách riêng, đều làm rạng danh dòng họ, rạng danh làng, góp phần rạng rỡ Hà Nội.

leftcenterrightdel
Minh họa: KHOA AN 

Tôi còn nhớ những tháng năm vất vả, cha mẹ vừa dạy học vừa tranh thủ làm bỏng ngô bán kiếm tiền nuôi con. Anh trai tôi từng xin cha mẹ cho nghỉ học để đi làm thuê, ưu tiên em nhỏ đi học. Cha không đồng ý. Anh tôi lại làm bạn với sách vở, chong điện học đêm, lặng lẽ nghe tiếng sột soạt soạn giáo án và nổ bỏng ngô tanh tách của cha mẹ hằng đêm, và tự nhủ phải cố gắng. Mùi bỏng ngô thơm nức tuổi thơ, thơm nức con đường ven sông đến trường. Mẹ tôi người gốc làng Xuân Đỉnh, nổi tiếng vị ngọt hồng xiêm, đảm đang, cần mẫn dạy học và đi chợ. Xung quanh hàng xóm nhiều tấm gương tảo tần. Dường như thế hệ cha mẹ tôi, các bác, cô chú đều đua nhau dùng nghị lực để dạy con nên người, sống với nhau bằng tình nghĩa...

Làng Lủ hội tụ nhiều nét đẹp của một làng cổ Hà Nội. Nơi đây không chỉ sinh ra những nhà khoa bảng, trao truyền tinh thần hiếu học mà đến nay, làng vẫn giữ được nền nếp văn hóa. Điều đặc biệt, ngoài các di tích đình, chùa, cổng làng, giếng cổ, làng vẫn gìn giữ được bốn nhà thờ danh nhân. Đây là nhà thờ cụ Hồng Hạo, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Dần 1710, đời vua Lê Dụ Tông, kia là nhà thờ Tiến sĩ Nguyễn Công Thái, đỗ khoa Ất Mùi 1715, đời vua Lê Dụ Tông. Tiếp đến là nhà thờ Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, đỗ khoa Mậu Tuất 1838, đời vua Minh Mạng. Nối tiếp truyền thống của làng, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp, đỗ khoa Ất Sửu 1865, đời vua Tự Đức. Nhà thờ Nguyễn Trọng Hợp là một di tích rộng, quy hoạch theo hình chữ nhị, quay hướng đông nam, có tường bao quanh.

Tôi vẫn giữ thói quen đón mùa ở Hà Nội bằng cách về thắp hương các danh nhân, tản bộ trong không gian nhà thờ rợp bóng cây, tản bộ và tìm cảm giác se lạnh bên dòng sông Kim Giang, vịn tay lên những bức tường rêu xám ẩn giấu ký ức. Càng đi và sống trong Hà Nội càng thấy Hà Nội rộng. Rộng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Yêu Hà Nội, tôi thêm yêu làng mình và noi gương các bậc tiền nhân. Như các dòng họ yêu làng, họ xây dựng quỹ khuyến học để khuyến khích con em học hành, đỗ đạt, góp phần xây dựng Hà Thành. Về làng, dù ngoài phố xá tấp nập, nhộn nhịp như thế nào, nhưng đi cổng chính dẫn vào làng rực sáng hai chữ Quan Miện (mũ quan) là thấy lòng tĩnh lại. Hai chữ đó có ý nhắc nhở mọi người đi ra khỏi làng thì phải gìn giữ lễ nghĩa, tránh gây tiếng xấu cho làng.

Hà Nội-Thành phố vì hòa bình, nơi đến của biết bao người, hội tụ bao điều nhân nghĩa. Đó là những giá trị sẽ ngày càng tích tụ, đọng lại, lắng lại, để trở thành nết ăn, nếp ở. Một nhà văn hóa đã nói, suy cho cùng, Hà Nội vẫn là một cái làng lớn, giàu tình nghĩa, ưu ái tất cả mọi người. Ai yêu làng mình cũng sẽ yêu và bén rễ nơi Hà Nội. Rồi những vẻ đẹp hương sắc, sẽ lại gieo thương nhớ, nở hoa trong mỗi con tim khi về Hà Nội học tập, lập nghiệp, sống trong nội thành hay trọ học ở những ngôi làng cổ, như làng Lủ. Nên với mỗi người bạn thân, tôi đều đưa họ về làng, dẫn đi cho bạn thấm từng nếp làng, nét sinh hoạt, hiểu mỗi con ngõ. Bởi trong tôi có lòng tự hào, tình yêu. Rồi bạn sẽ kể với người khác về làng tôi, Hà Nội của tôi.

NGUYỄN VĂN HỌC