Buổi sáng ở Ulaanbaatar, tuyết phủ trắng những hàng thông trước cổng Trường liên cấp số 14 mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong cái lạnh âm hàng chục độ C, tiếng hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” bất ngờ vang lên từ sân trường bằng giọng trẻ thơ Mông Cổ. Giữa mùa đông thảo nguyên xa xôi, chúng tôi bỗng có cảm giác đang ở rất gần Việt Nam.
Trước khi đến với ngôi trường đặc biệt này, chúng tôi được Đại sứ Việt Nam tại Mông Cổ Nguyễn Tuấn Thanh giới thiệu, Giáo sư Sonom-Ish Dashtsevel là người có công rất lớn đưa tiếng Việt, văn hóa Việt vào trong quá trình giảng dạy. Đại sứ nói, chưa từng thấy một người nước ngoài nào yêu tiếng Việt, văn hóa Việt đến vậy. Mỗi dịp quan trọng, Giáo sư Sonom-Ish Dashtsevel lại được mời tới đây để kể chuyện về Bác Hồ, kể chuyện về Việt Nam và kể về quãng đời tuổi trẻ ông đã gửi lại ở đất nước cách Mông Cổ hàng nghìn cây số.
    |
 |
| Giáo sư Sonom-Ish Dashtsevel. |
Đến Trường liên cấp số 14 mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi hòa ngay với nhịp hoạt động sôi nổi của học sinh và giáo viên. Ông B.Choidorj, Hiệu trưởng nhà trường giới thiệu với chúng tôi về lịch sử ngôi trường này. Theo đó, Trường liên cấp số 14 thành lập năm 1949, là một trong những cái nôi đào tạo nhân tài của Mông Cổ. Năm 1980, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ Mông Cổ quyết định ngôi trường mang tên Người. Năm 2009, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên trong khuôn viên trường. Năm 2017, phòng truyền thống Hồ Chí Minh được khánh thành. Từ đó, Việt Nam không còn là một đất nước xa xôi trong sách vở mà trở thành một phần ký ức của nhiều học sinh Mông Cổ.
Hôm nay, ở ngôi trường này có một lớp học đặc biệt. Người đứng lớp không phải giáo viên mà là Giáo sư Dashtsevel. Trong buổi lên lớp này, Giáo sư Dashtsevel kể về hành trình tiếp thu và đưa tiếng Việt, văn hóa Việt vào dạy tại trường mấy chục năm qua.
Năm nay, Giáo sư Dashtsevel đã bước sang tuổi 83. Hằng ngày, ông vẫn lặng lẽ ngồi bên bàn làm việc, tiếp tục dịch thơ ca Việt Nam sang tiếng Mông Cổ. Ông chia sẻ đang ấp ủ một cuốn sách gần 400 trang, tuyển dịch những bài thơ tiêu biểu của Việt Nam. Bởi ông muốn người dân Mông Cổ hiểu rằng, đất nước luôn phải đương đầu với những cuộc chiến tranh mà thế giới từng biết tới là một dân tộc có tâm hồn rất đẹp. Ông kể: "Tôi sang Việt Nam tháng 12-1962 bằng tàu hỏa sau 5 ngày, qua Trung Quốc rồi mới tới được ga Hà Nội. Tháng 12 ở Mông Cổ rất lạnh, nhưng sang Việt Nam thì ấm hơn. Khi ấy, đất nước các bạn đang trong chiến tranh. Tôi học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và sống tuổi trẻ của mình giữa những năm tháng bom đạn. Khi chưa đến Việt Nam, tôi chưa biết nhiều về đất nước, con người Việt Nam. Điều đọng lại lâu nhất trong ký ức của tôi không phải tiếng bom đạn mà là tâm hồn của người Việt Nam giữa chiến tranh. Buổi tối, đài phát thanh có tiết mục ngâm thơ. Mọi người đều thích nghe. Tôi tự hỏi: Tại sao đang chiến tranh mà người Việt Nam vẫn yêu thơ ca đến như vậy?".
Chính câu hỏi ấy đã kích thích chàng trai Mông Cổ Dashtsevel tìm hiểu Việt Nam qua thơ ca. Dashtsevel đọc thơ Tố Hữu, đọc “Truyện Kiều” của Nguyễn Du và đọc “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và ông dần nhận ra phía sau dân tộc kiên cường ấy là đời sống văn hóa tinh thần vô cùng sâu sắc. “Dần dần, tôi yêu đất nước Việt Nam, yêu người Việt Nam”, ông nói.
Tình yêu ấy sau này được ông thể hiện qua những trang sách. Giáo sư Dashtsevel bắt đầu dịch các tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Mông Cổ, như: “Hịch tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo”, “Truyện Kiều” và đặc biệt là “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua tập thơ “Nhật ký trong tù”, người dân Mông Cổ biết được Bác Hồ là người rất yêu đời, lạc quan và vĩ đại. Con người và tấm lòng của Bác giúp Dashtsevel trả lời phần nào câu hỏi "Vì sao một dân tộc nhỏ bé lại có thể giành được thắng lợi vẻ vang trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc?".
Sau hơn nửa thế kỷ, tình yêu Việt Nam mà Giáo sư Dashtsevel mang về từ Hà Nội năm ấy giờ đang tiếp tục lớn lên trong một ngôi trường giữa thủ đô Ulaanbaatar. Một ngôi trường nơi trẻ em Mông Cổ biết hát tiếng Việt, biết tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và lớn lên cùng những câu chuyện về Việt Nam.
B.Javkhlantugs, học sinh lớp 11 của trường chia sẻ với chúng tôi bằng tiếng Việt hết sức tự tin: "Em rất tự hào vì được học tại Trường liên cấp số 14 mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ năm nào nhà trường cũng tổ chức biểu diễn văn nghệ. Em mong có cơ hội được đến Việt Nam để tìm hiểu về văn hóa, con người Việt Nam, đặc biệt là về thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh".
Cô N.Purevsuren, giáo vụ nhà trường cho biết, hằng năm, vào dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ, nhà trường đều tổ chức các hoạt động thi viết chữ đẹp, vẽ tranh, thi tìm hiểu về Việt Nam... Cô N.Purevsuren nói: "Cá nhân tôi rất yêu mến đất nước Việt Nam. Tôi đã hai lần sang Việt Nam để tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam. Sau khi trở về, tôi thường xuyên giới thiệu cho học sinh về Việt Nam".
Còn G.itgel, học sinh lớp 11 của trường thì bày tỏ: "Em rất thích các bài hát về Việt Nam, đặc biệt là những bài hát về Bác Hồ. Em cũng biết Việt Nam là một đất nước với những con người rất thân thiện. Em rất ấn tượng với các hoạt động ngoại khóa mà nhà trường tổ chức vào những dịp lễ quan trọng của Việt Nam".
Chiều xuống trên thủ đô Ulaanbaatar. Tuyết tiếp tục rơi trắng sân trường. Trong căn phòng nhỏ, Giáo sư Dashtsevel vẫn lặng lẽ dịch những câu thơ Việt sang tiếng Mông Cổ. Hơn nửa thế kỷ đã đi qua kể từ ngày ông bước xuống ga Hà Nội giữa mùa đông năm 1962, ngọn lửa Việt trong ông luôn được lan tỏa đến nhiều thế hệ học sinh và người dân Mông Cổ, qua đó góp phần thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai quốc gia Việt Nam và Mông Cổ.
Bài và ảnh: BÍCH THƯỢC