Thế nhưng, cuộc sống không vì mưa mà ngưng lại. Những con đường vẫn hằn vệt bánh xe. Những công trường vẫn vang tiếng máy. Hàng quán vẫn đỏ lửa đón khách. Trong cái ẩm ướt tưởng như có thể níu chân con người ấy, nhịp sống xứ sở bazan vẫn lặng lẽ, bền bỉ cựa mình.
Chiều ấy, mưa vừa ngớt, tôi tìm về Biển Hồ, nơi người đời vẫn quen gọi là “đôi mắt” của phố núi.
Sau chuỗi ngày bị mây mù phủ kín, mặt hồ chiều nay bất chợt mở ra dưới những vệt nắng muộn. Ánh sáng từ đỉnh trời rót xuống, loang trên mặt nước thành từng dải bạc. Hồ không còn vẻ đục ngầu, lạnh lẽo của những ngày mưa. Nước xanh thăm thẳm, trời cũng cao hơn. Rừng thông ven bờ trầm ngâm chắn gió. Vài cánh chim chao nghiêng qua làn nước phẳng lặng rồi mất hút vào khoảng không đang bảng lảng màu hoàng hôn.
    |
 |
Hoàng hôn trên Biển Hồ. Ảnh: ANH VŨ
|
Tôi đứng bên bờ rất lâu. Có những cảnh sắc chỉ cần ngắm đã thấy say lòng, nhưng Biển Hồ lại khiến người ta băn khoăn muốn chạm vào phần hồn khuất lấp phía sau. Đại úy QNCN Lê Thanh Lĩnh, công tác ở Văn phòng Binh đoàn 15 và đã gắn bó với mảnh đất này gần 20 năm, khẽ cười khi nghe tôi hỏi: “Người ta bảo Biển Hồ là đôi mắt Pleiku, nhưng sao đứng trước mênh mông này, tôi vẫn thấy thiếu một điều gì đó để thực sự chạm tới?”.
Anh Lĩnh nhìn ra xa xăm, giọng trầm xuống: “Mùa khô hồ trong veo, mùa mưa lại mịt mùng sương khói. Mắt hồ dẫu đẹp nhưng vẫn là vẻ đẹp của trời đất. Muốn thấy cái hồn thực sự của "đôi mắt" xứ này, anh phải tìm đến những người bản địa làm văn hóa".
Nghe lời anh, thế là chúng tôi lên đường. Vừa lái xe anh Lĩnh vừa giới thiệu sơ lược, ở xã Biển Hồ này, chị Pel ở làng Phung 1 là nghệ nhân dệt thổ cẩm truyền thống nổi tiếng. Chị chắc sẽ có nhiều câu chuyện mà tôi cần. Sau hơn 10 phút đi trên con đường Tôn Đức Thắng rộng thẳng, anh Lĩnh đưa tôi vào một ngôi nhà nằm trong hẻm 332.
Chị Pel đón chúng tôi bằng nụ cười hiền hậu, vóc dáng nhỏ nhắn và đôi mắt to tròn, sâu thẳm. Nhìn vào đôi mắt ấy, tôi chợt thấy một khoảng lặng mênh mang, hun hút đến lạ kỳ, cái sâu đó chẳng khác nào đáy nước Biển Hồ ban chiều. Nếu không được giới thiệu trước, khó ai tin người phụ nữ có đôi bàn tay thoăn thoắt và tác phong nhanh nhẹn này đã bước qua tuổi 50 và lên chức bà ngoại.
Bên chiếc bàn gỗ mộc, chén trà nóng nghi ngút khói, chị Pel chậm rãi kể về nguồn cơn của hồ nước quê mình.
Đồng bào Gia Rai gọi hồ là Ia Nueng. Người Kinh đến thấy mênh mang giữa rừng cao nguyên thì gọi Biển Hồ. Người già kể lại, xưa kia Ia Nueng vốn là bến nước chung của làng, nước trong vắt soi rõ từng sợi tóc. Một ngày nọ, có con heo trắng kỳ lạ xuất hiện, nó chỉ thích ăn cát trắng trên chiếc bầu đựng nước của bà Yă Chao. Lớn nhanh như thổi, con heo bị dân làng bắt, làm thịt cúng Yàng khi dựng nhà rông mới. Lời thề giữ trọn lòng trắc ẩn của bà Yă Chao đã ứng nghiệm trong cơn chấn động kinh hoàng: Đất sụp, nước từ lòng sâu cuộn trào nhấn chìm buôn làng, hóa hai bà cháu thành đá dưới đáy thẳm. Lại có chuyện kể rằng ngọn núi lửa từng thiêu rụi cả một làng cổ, và Biển Hồ hôm nay chính là giọt nước mắt khóc thương người thân tích tụ qua hàng trăm mùa rẫy mà thành.
“Người ta gọi Biển Hồ là đôi mắt, bởi nó lưu giữ hết thảy: Bóng núi, rừng thông, mây trời và cả ký ức của những mùa rẫy đã qua”, chị Pel vừa nói vừa đưa tay chạm vào khung cửi đặt bên góc nhà.
Đó là lúc tôi nhận ra sự gắn kết kỳ lạ giữa câu chuyện huyền tích và từng sợi chỉ trên tay chị. Với chị Pel, dệt thổ cẩm không đơn thuần là mưu sinh mà là cách chị giữ lại hơi thở của tiền nhân. Từ thuở còn là cô bé theo mẹ lên rẫy, chị đã say mê nhìn những sợi chỉ đen, chỉ trắng đan cài. Người Gia Rai không chuộng sắc màu sặc sỡ, kim tuyến óng ánh như anh em Ba Na hay Ê Đê. Vải của họ trầm tĩnh, lấy nền đen thăm thẳm như đất rừng đêm mưa, điểm xuyết những sợi trắng, vàng, đỏ mộc mạc như ánh lửa bập bùng giữa gian nhà sàn.
    |
 |
| Chị Pel dệt vải bên khung cửi. Ảnh: TÂM ĐỨC |
Ngồi vào khung dệt, đôi mắt sâu thẳm của chị Pel dường như dồn hết vào từng đường thoi. Từng nhịp đập của khung cửi vang lên đều đặn, nhẫn nại. Dưới đôi bàn tay chai sần mà khéo léo, những hoa văn múa xoang, những đường nét cách điệu hình nhà mồ dần hiện hình. Mỗi đường chỉ nổi lên trên mặt vải phẳng phiu chẳng khác nào những gợn sóng lăn tăn xao động trên mặt nước Ia Nueng khi có ngọn gió chiều thổi qua. Mặt hồ thu lấy bóng hình của trời mây, còn tấm thổ cẩm lại thu gom toàn bộ linh hồn, nếp sống và tâm thức của người Gia Rai.
Chị bảo, dệt thổ cẩm khó nhất ở trí nhớ và sự tưởng tượng. Không có bản vẽ sẵn, mọi hoa văn đều nằm trọn trong tâm trí. Dù trang phục hiện đại ngoài chợ có rẻ và tiện đến đâu, chị vẫn miệt mài ngồi bên khung gỗ mỗi khi xong việc rẫy, rồi kiên nhẫn truyền từng đường chỉ, thế thoi cho lớp trẻ trong làng. “Vải thổ cẩm bền lắm, dệt bằng cái bụng thương buôn làng thì mặc cả đời cũng không phai, không rách”, chị cười, ánh mắt lấp lánh niềm kiêu hãnh giản dị.
Rời con hẻm nhỏ làng Phung 1, chiếc xe chầm chậm đưa chúng tôi trở lại những trục đường chính của Pleiku. Nhìn qua khung kính ướt mờ sương, phố núi hiện ra không còn là một vùng thâm sơn cùng cốc của những huyền tích xa xưa mà đang vươn mình trong một nhịp thở hoàn toàn mới. Pleiku hôm nay không còn là phố núi trong những câu chuyện chỉ có mây, gió, rừng thông và đất đỏ bazan.
Những con đường dốc quanh co ngày nào từng trơn trượt bùn đỏ sau mỗi mùa mưa nay đã được thảm nhựa, mở rộng. Những hàng thông cổ thụ vẫn đứng đó, xanh ngắt và trầm mặc, nhưng bên dưới đã xuất hiện những dãy phố mới, những khách sạn, trung tâm thương mại và những công trình hiện đại. Đêm xuống, phố núi lên đèn. Những quán cà phê nép dưới rặng thông. Những không gian mới dành cho người trẻ. Những con đường tấp nập xe cộ. Một Pleiku năng động hơn đang từng ngày hiện ra trong nhịp chuyển động mới của đô thị.
Nhưng giữa những đổi thay ấy, màu xanh của rừng vẫn còn. Tiếng cồng chiêng vẫn còn. Những điệu múa xoang vẫn còn. Và đâu đó, sau một con dốc, trong một ngôi nhà bình dị vẫn có người phụ nữ ngồi bên khung dệt, kiên nhẫn đưa từng sợi chỉ qua từng đường hoa văn.
Đến lúc này, tôi mới hiểu vì sao mình đã đứng rất lâu bên Biển Hồ mà vẫn thấy thiếu một điều gì đó, chưa thể tìm ra “đôi mắt” Pleiku. Thì ra, một cái hồ không thể tự kể câu chuyện về mình. Phải có con người. Phải có ký ức. Phải có những người còn nhớ cái tên Ia Nueng còn kể chuyện bà Yă Chao; còn ngồi bên khung dệt và nhớ từng hoa văn của cha ông.
Trên đường về, tôi ngoái nhìn mặt nước Biển Hồ. Mây đã tan. Mặt hồ trong hơn. Những hàng thông in bóng xuống nước. Tôi nhớ đến đôi mắt chị Pel. Hai đôi mắt ở hai nơi, tưởng chẳng liên quan mà hóa ra cùng nhìn về một phía, cùng giữ lại những gì thời gian muốn cuốn đi. Rồi đây, trong tương lai, Pleiku sẽ còn đổi thay, rộng hơn và hiện đại hơn. Nhưng tôi tin, chừng nào trên những con dốc ấy vẫn còn một người nhớ đến tiếng cồng chiêng, chừng nào vẫn còn một người biết dệt lại hoa văn của mẹ, của bà, chừng nào Biển Hồ vẫn còn soi bóng rừng thông xuống mặt nước thì Pleiku vẫn còn giữ được "đôi mắt" của mình.
Ghi chép của MẠNH THẮNG