Theo lịch sử Việt Nam, nghề làm giấy có từ thế kỷ thứ 3. Vào những thế kỷ sau, giấy dó ra đời, một loại giấy dẻo, dai, chịu thời gian. Ngày nay vẫn còn những sắc phong thời Mạc viết trên giấy dó chứng minh cho sức chịu thời gian của loại giấy này. Nghề làm giấy ra đời tạo điều kiện cho nghề in phát triển.
Thời nhà Đinh đã cho khắc kinh Phật vào 100 trụ đá tại kinh đô Hoa Lư, nay di vật vẫn còn. Khắc được chữ trên đá, đương nhiên là khắc được chữ trên gỗ để in. Thời nhà Trần, Thiền sư Pháp Loa cho in khoảng 5.000 cuốn Kinh Đại tạng. Như vậy, nghề in ở nước ta ra đời rất sớm, nhưng chưa hình thành làng nghề và chưa xác định được tổ nghề khắc in mộc bản là ai, kỹ nghệ như thế nào.
Lương Như Hộc (1420-1501), người làng Hồng Lục, huyện Trường Tân (nay là phường Tân Hưng, TP Hải Phòng), làm quan đến chức Đô ngự sử. Trước khi Lương Như Hộc ra đời, nghề khắc ván in đã có ở trong nước, nhưng kỹ thuật khắc in thế nào chưa được ghi nhận. Sau khi đỗ Thám hoa, Lương Như Hộc có hai lần đi sứ Trung Quốc. Đối với ông, đi sứ không chỉ làm việc ngoại giao về chính trị mà còn quan sát xã hội, học tập kỹ thuật các ngành nghề, ở đây là nghề khắc ván in mộc bản với những kỹ thuật tiến bộ hơn. Tuy học kỹ thuật khắc in ở Trung Quốc nhưng ông và những người cộng sự không phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật sẵn có mà có sự điều chỉnh cho phù hợp với cách làm của người Việt. Kỹ thuật khắc của người thợ làng Thanh Liễu có những đặc điểm riêng, trong đó có cách sử dụng dao lưỡi bằng để khắc. Đến nay, các nghệ nhân Việt Nam vẫn dùng dao lưỡi bằng như xưa.
Nghề khắc in mộc bản ở làng Thanh Liễu phát triển trong nhiều thế kỷ, tạo nên một làng nghề in ấn nổi tiếng, rồi dần mai một vào đầu thế kỷ 20 khi nghề in typo, tức in chữ đúc rời du nhập vào Việt Nam. Tuy có kỹ nghệ in chữ đúc rời nhưng nghề in mộc bản vẫn tồn tại cho đến đến nay, chủ yếu tại làng Thanh Liễu dù không phổ biến. Nghệ nhân khắc in mộc bản còn khắc con dấu cho nhà nước và các nhu cầu của người đặt. Đôi khi, tuy không nhiều, còn khắc cả chữ trên đá, tức khắc văn bia và câu đối, đại tự trên gỗ. Đặc biệt là thợ khắc ván in nơi đây còn khắc cả tranh dân gian. Những tác phẩm nổi tiếng gắn với nghề in mộc bản Thanh Liễu có: "Đại Việt sử ký toàn thư" khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697), "Kỹ thuật của người An Nam" đầu thế kỷ 20...
    |
 |
Khắc in mộc bản được Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt (ở giữa) thực hiện. Ảnh do Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt cung cấp
|
Nghề khắc ván in từng giữ vai trò quan trọng trong việc sao chép, lưu truyền kinh sách, sử liệu và nhiều loại văn bản trong xã hội xưa. Những tấm ván khắc vì thế không chỉ phục vụ nhu cầu in ấn mà còn góp phần lưu giữ và truyền bá tri thức qua nhiều thế hệ. Trong những ghi chép về các nghề thủ công ở xứ Đông, Trần Huy Phác-nhà giáo, sống vào cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn đã viết: "Phường Hồng Lục, Liễu Tràng khắc chữ /Bản bộ kinh, bộ sử rành rành".
Hai câu thơ cho thấy nghề khắc chữ ở Hồng Lục, Liễu Tràng đã có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế và văn hóa của vùng đất này. Bên cạnh khắc ván in kinh sách, sử liệu và các loại văn bản, những phường thợ nơi đây còn đảm nhận nhiều công việc khác như khắc văn bia, biển hiệu, con dấu, đại tự và tranh. Dấu tích về hoạt động của họ còn được nhận biết qua tên người, tên làng được ghi ở phần cuối một số mộc bản còn lưu giữ đến ngày nay. Sự phát triển của nghề cũng được phản ánh qua câu ca dao: "Đình Sinh, Quán Sếu, Chùa Tràng/ Trong ba làng ấy không làm cũng có ăn".
“Đình Sinh” được cho là đình làng Thanh Liễu, “Quán Sếu” là Tam Dương quán ở Khuê Liễu, còn “Chùa Tràng” gắn với làng Liễu Tràng. Câu ca dao với nhiều dị bản được lưu truyền, phần nào cho thấy nghề khắc in từng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho cư dân 3 làng. Nghề thủ công này tồn tại song song với sản xuất nông nghiệp, tạo nên một phương thức mưu sinh kết hợp khá phổ biến ở các làng nghề xưa.
Khắc ván in đòi hỏi người thợ phải khắc ngược chữ để khi in ra thành chữ xuôi, thường gọi là khắc âm bản. Công việc này khó hơn khắc dương bản như văn bia, câu đối, đại tự. Vì vậy, nghề nghiệp yêu cầu nghệ nhân phải biết chữ Hán, nắm được quy tắc viết, đồng thời hết sức tỉ mỉ, cẩn trọng trong từng nét khắc. Đối với những tác phẩm, công trình quan trọng của triều đình hoặc tôn giáo, người đặt hàng thường tuyển chọn thợ có tay nghề, tổ chức khắc trong thời gian dài tại một cơ sở nhất định. Các bản khắc sau khi hoàn thành đều được ghi rõ nơi lưu giữ để khi cần có thể tiếp tục in, tái bản. Ván khắc chủ yếu được làm bằng gỗ thị, đôi khi dùng gỗ thừng mực, là những loại gỗ ít cong vênh, ít bị mối mọt, có độ dẻo và bền chắc. Việc chế tác ván do thợ mộc đảm nhiệm, còn khắc chữ là công việc của những nghệ nhân có tay nghề. Khâu in phần lớn do phụ nữ thực hiện. Như vậy, nghề khắc in mộc bản có thể thu hút hầu hết lao động của làng xã xưa. Tuy nhiên, nghề nghiệp dù có phát đạt nhưng cư dân không rời bỏ nghề nông.
Trải qua hơn 500 năm, những người thợ khắc in ở đây đã tham gia tạo nên nhiều mộc bản, sách và tác phẩm có giá trị. Nhưng qua thời gian, phần lớn đã bị tiêu hủy. Một số nơi còn lưu trữ những bộ mộc bản có giá trị là kho lưu trữ của triều Nguyễn tại Huế, chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Ninh) và chùa Vĩnh Khánh, tức chùa Trăm Gian (Hải Phòng).
Mộc bản khắc in bằng chữ Hán, chữ Nôm từ những thế kỷ trước được Nhà nước ta cũng như các tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục quan tâm bảo tồn, phát huy. Năm 2009, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh Mộc bản triều Nguyễn vào danh mục Di sản tư liệu thế giới. Đây là di sản tư liệu đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào danh mục này.
Mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm tại tỉnh Bắc Ninh ngày nay được ghi danh là Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương từ năm 2012. Bộ mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là di sản tư liệu bằng chữ Hán và chữ Nôm, gồm khoảng 3.000 bản khắc, trong đó có các trước tác của Phật hoàng Trần Nhân Tông cùng các vị cao tăng Thiền phái Trúc Lâm.
Mộc bản Trường học Phúc Giang được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương từ năm 2016. Theo công bố của UNESCO, đây là khối mộc bản cổ về giáo dục của một dòng họ còn được lưu giữ ở Việt Nam, được sử dụng tại Trường học Phúc Giang ở làng Trường Lưu từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20. Hiện bộ mộc bản còn gần 400 bản khắc, chủ yếu bằng gỗ thị.
Ngày 31-10-2025, tại chùa Vĩnh Khánh, tức chùa Trăm Gian, xã An Phú, TP Hải Phòng, địa phương tổ chức lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận Mộc bản chùa Trăm Gian là Bảo vật quốc gia. Chùa hiện còn gần 900 mộc bản, khắc gần 26 đầu sách, gồm kinh, sách, luật, luận, sớ, điệp, bùa chú..., được khắc chủ yếu thời Nguyễn.
Thời phong kiến, triều đình đã nhiều lần ban sắc phong cho Lương Như Hộc, tôn ông làm Thành hoàng bản thổ, thờ cúng muôn đời. Nhân dân địa phương tôn vinh ông là Ông tổ nghề in mộc bản của bản xã, thậm chí của nghề khắc ván in ở Việt Nam.
Hiện nay, những nghệ nhân vẫn tiếp tục nghề ông cha, có thể thực hiện những bản khắc chữ Hán, Nôm như ông cha đã từng làm, cùng những bức tranh dân gian cổ điển, hoặc sáng tạo tác phẩm mới. Từ truyền thống ấy, nghề khắc ván in ở Thanh Liễu tiếp tục được duy trì qua nhiều thế hệ, để lại dấu ấn trong nhiều loại hình văn bản và mộc bản còn lưu giữ đến ngày nay.
TĂNG BÁ HOÀNH